Thứ Bảy, 22 tháng 2, 2014
TÌNH HÌNH VIỆN TRỢ ODA CỦA NHẬT BẢN CHO VIỆT NAM TỪ 1992-NAY
tổ chức khu vực hoặc của chính một nước dành cho Chính phủ một nước nào đó,
nhưng có thể được thực hiện thơng qua các tổ chức đa phương như UNDP (
Chương trình phát triển Liên Hợp Quốc)…có thể các khoản viện trợ của các tổ
chức tài chính quốc tế được chuyển trực tiếp cho bên nhận viện trợ.
Phân loại theo mục tiêu sử dụng có: Hỗ trợ cán cân thanh tốn; tín dụng
thương nghiệp; viện trợ chương trình; viện trợ dự án.
Hỗ trợ cán cân thanh tốn là các khoản ODA cung cấp để hỗ trợ ngân
sách của Chính phủ, thường được thực hiện thơng qua các dạng: chuyển giao
tiền tệ trực tiếp cho nước nhận ODA và Hỗ trợ nhập khẩu (viện trợ hàng hố);
Tín dụng thương nghiệp: tương tự như viện trợ hàng hố nhưng có kèm theo các
điều kiện ràng buộc. Chẳng hạn nước cung cấp ODA u cầu nước nhận phải
dùng phần lớn hoặc hầu hết vốn viện trợ để mua hàng ở nước cung cấp; Viện trợ
dự án: chiếm tỷ trọng lớn nhất trong tổng vốn thực hiện ODA. Điều kiện để
được nhận viện trợ dự án là" phải có dự án cụ thể, chi tiết về các hạng mục sẽ sử
dụng ODA"; Viện trợ chương trình là nước viện trợ và nước nhận viện trợ ký
hiệp định cho một mục đích tổng qt mà khơng cần xác định chính xác khoản
viện trợ sẽ được sử dụng như thế nào.
II. Vai trò của ODA đối với sự phát triển của nền kinh tế Việt Nam.
Kể từ năm 1986 là thời điểm bắt đầu cơng cuộc đổi mới ở Việt Nam, cho
đến nay đất nước đã thu được những thành tựu to lớn về phát triển kinh tế và ổn
định xã hội. Hiện nay Việt Nam đang trong q trình đẩy mạnh cơng nghiệp
hố, hiện đại hố đất nước. Để có những bước phát triển lớn hơn thì vốn và cơng
nghệ là những yếu tố khơng thể thiếu. Mặc dù đã trải qua hơn một thập kỷ trong
sự nghiệp đổi mới nhưng Việt Nam vẫn mới được coi bắt đầu bước vào giai
đoạn đầu của tiến trình cơng nghiệp hố. Do đó thu hút và sử dụng các nguồn
vốn bên ngồi khơng chỉ có FDI mà cả ODA, đặc biệt là ODA Nhật Bản có vai
trò rất quan trọng cho việc tạo đà phát triển của nền kinh tế nước nhà.
ODA của Nhật Bản vẫn được coi là một nguồn vốn hết sức q giá cho
tiến trình thực hiện cơng cuộc đổi mới kinh tế ở Viêt Nam. Chính sách ODA của
Nhật Bản trong khoảng một thập kỷ qua về cơ bản là đáp ứng được sự mong
muốn của Chính phủ và nhân dân Việt Nam, và nó đã hỗ trợ tích cực cho sự
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN
phát triển hợp tác lâu dài giữa Viêt Nam và Nhất Bản đặc biệt trong các quan hệ
ngoại giao và hợp tác kinh tế.
Nếu tính từ năm 1992 đến nay, Nhật Bản đã ln là nước đứng đầu về
viện trợ ODA dành cho Việt Nam với tổng số vốn cam kết lên tới 509,804 tỷ
n, tương đương trên 5 tỷ USD. Điều đó trước hết thể hiện đường lối mong
muốn tăng cường hợp tác trên lĩng vực kinh tế với Việt Nam. Vốn ODA của
Nhật Bản dành cho Việt Nam đã tăng năm sau lớn hơn năm trước. Điều đó có
một ý nghĩa hết sức quan trọng trong việc thúc đẩy quan hệ giữa hai nước, đặc
biệt là quan hệ ngoại giao và kinh tế. Đồng thời nó cũng có tác độg khơng nhỏ
tới các quan hệ đối ngoại khác của Việt Nam. Sau Nhật Bản thì một loạt các
nước phát triển khác, các tổ chức quốc tế khác cũng đã nối lại và tăng cường
viện trợ cho Việt Nam, hỗ trợ q trình chuyển đổi sang nền kinh tế thị trường
của Việt Nam.
Nhìn một cách bao qt nhất, nguồn vốn ODA của Nhật Bản trước hết có
vai trò bổ sung nguồn vốn trong nước. Việt Nam bước vào q trình thực hiện
cải cách với điều kiện cơ sở hạ tầng còn hết sức thấp kém. Việc cải tạo và phát
triển nó đòi hỏi trước hết phải có một nguồn vốn rất lớn, đọi hỏi này mang tính
tất yếu của q trình xây dựng và phát triển kinh tế ở một nước chậm phát triển
như Việt Nam hiện nay. Tuy nhiên việc huy động và sử dụng nguồn vốn trong
nước còn rất nhỏ bé do mức tiết kiện trong nước còn thấp, tỷ lệ huy động vồn
nhàn rỗi cho đầu tư cũng ở mức rất khiêm tốn sẽ khơng đảm bảo thoả mãn nhu
cầu khách quan ấy.
Với ý nghĩa trên, ODA của Nhật Bản được xem như một trong các nguồn
vốn cơ bản từ bên ngồi có thể thu hút để thúc đẩy nhanh sự phát triển kinh tế,
xã hội của Việt Nam. Ví dụ trong nhiều năm, đặc biệt năm 1998 nền kinh tề Việt
Nam gặp nhiều khó khăn do chịu ảnh hưởng của cơn bão tài chính ở Châu Á,
Chính phủ đã phải sử dụng tới cả ODA như là một nguồn tài chính bổ sung cho
ngân sách: 3% để hỗ trợ ngân sách, 17% dành cho giáo dục và đào tạo, 35% cho
xây dựng cơ bản, 45% cho vay lại các dự án.
Có thể nhận thấy rằng bước vào thời kỳ đổi mới, đặc iệt trong thập kỷ 90
vừa qua, trợ giúp phát triển chính thức dưới dạng viện trợ khơng hồn lại và trợ
giúp kỹ thuật của Nhật Bản đã phần nào giúp Việt Nam tiềp thu những thành tựu
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN
khoa học và cơng nghệ mới, góp phần thúc đẩy cơng nghiệp hố rút ngắn thơng
qua chương trình đào tạo phát triển nguồn nhân lực. Đây được cho là lợi ích căn
bản, lâu dài mà ODA Nhật Bản dành cho Việt Nam trong thập kỷ qua.
Mặt khác, việc thu hút ODA Nhật Bản đã có một tác dụng như lực hút
cho các nhà đầu tư tới thị trường Việt Nam. Việc xây dựng và phát triển cơ sở
hạ tầng ở Việt Nam khơng chỉ đẩy nhanh q trình cơng nghiệp hố ở Việt Nam
mà còn tạo ra mơi trường đầu tư thuận lợi cho phía Nhật Bản. ODA đã tạo sự tin
cậy cho các nhà đầu tư bỏ vốn vào Việt Nam. Đây được xem như một hệ quả tất
yếu của mối quan hệ tương tác giữa ODA và FDI của Nhật Bản tại Việt Nam.
Thực hiện theo các cam kết cấp cao giữa chính phủ hai nước, nguồn vốn
ODA này đã giữ vai trò quan trọng trong việc triển khai cơng cuộc cải cách
doanh nghiệp quốc doanh, tự do hố thương mại, cải tạo hệ thống tài chính tiền
tệ quốc gia đặc biệt là ngân hàng ở Việt Nam. Kết quả của những cải cách đó sẽ
giúp Việt Nam có thể hội nhập được với tiến trình phát triển chung của khu vực
và thế giới.
Tóm lại, viện trợ phát triển của nhật Bản cho Việt Nam trong giai đoạn
vừa qua về cơ bản là phù hợp với những ưu tiên phát triển kinh tế - xã hội của
Việt Nam, đặc biệt là đã hỗ trợ cho Việt Nam cải thiện và phát triển cơ sở hạ
tầng, từng bước nâng cao năng lực sản xuất và quản lý, góp phần chuyển giao
cơng nghệ và phát triển nguồn nhân lực, từ đó Việt Nam từng bước nâng cao vai
trò của nền kinh tế và vị thế của đất nước.
CHƯƠNG II
TÌNH HÌNH VIỆN TRỢ ODA CỦA NHẬT BẢN CHO VIỆT NAM
TỪ 1992 ĐẾN NAY
I. Tình hình tiếp nhận và giải ngân ODA ở Việt Nam
Về tiềp nhận: trong chiến tranh chống Mỹ Việt Nam đã thiết lập quan hệ
ngoại giao với các nước XHCN và nhận được nhiều khoản viện trợ. Sau chiến
tranh chúng ta vẫn tiếp tục nhận tài trợ ODA khơng những từ các nước XHCN
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN
mà cả từ các nước TBCN, đặc biệt từ thập kỷ 90 đến nay viện trơ ODA dành
cho Việt Nam ngày càng tăng, có vai trợ quan trọng trong sự phát triển kinh tế
của Việt Nam. Các nhà tài trợ song phương và đa phương chính đó lạ:
Đa phương: Ngân hàng Thế giới (WB); Ngân hàng phát triển Châu Á
(ADB); Các tổ chức phi chính phủ (NGO) và Liên hợp quốc…
Song phương: Nhầt Bản, Hàn Quốc, Úc, Thụy Điển, Đài Loan, Pháp, Bỉ
và Canađa…Trong đó Nhật Bản ln là nhà tài trợ lớn nhất cho Việt Nam, với
những hình thức cung cấp đa dạng và ưu đãi. Bên cạnh đó WB, ADB cũng là hai
nguồn viện trợ lớn.
Bảng1: Tổng vốn ODA cam kết vào Việt Nam (Tỷ USD)
Năm 1993 1994 1995 1996 1997 1998 1999 2000 tổng
Cam kết 1,88 1,94 2,26 2,43 2,40 2,40 2,70 2,8 18,81
Giải ngân 0,27 0,62 o,66 0,98 1,015 1,04 1,2 0,785 5,798
(Theo: Hỗ trợ phát triển chính thức ODA - NXB giáo dục - 2000)
Về giải ngân ODA nói chung và ODA nhật Bản nói riêng trong thời gian
qua và hiện nay của chúng ta, qua các tư liệu tổng hợp cho thấy chiều hướng
viện trợ chính thức cho Việt Nam tiềp tục tiến triển thuận lợi ở một số mặt quan
trọng, song còn nhiều vấn đề thách thức.
Nếu tính từ tháng 11 năm 1992 tới năm 1997, trong gần 6 năm đầu Việt
Nam được nối lại viện trợ đa phương (trong đó nguồn ODA của Nhật Bản đóng
vài trò quan trọng nhất với tỷ trọng ln chiếm trên 50%) với các mức cam kết
rất cao, trung bình trên 2 tỷ USD/năm. Mức giải ngân cho tổng gói ODA nói
chung đã tăng đáng kể khoảng 1 tỷ USD/năm trong các năm 1996, 1997 và
1998. Mặc dù chiều hướng giải ngân ODA tăng lên chủ yếu do những tiến bộ
trong việc thực hiện các dự án và nó được triển khai trên một diện tương đối
rộng, ở hầu hết các loại hình dự án ODA, kể cả các dự án xây dựng cơ sở hạ
tầng và hỗ trợ kỹ thuật. Tuy nhiên, so với thực tế thì việc giải ngân còn nhiều
vấn đề phải tính tốn.
Xét riêng việc giải ngân vốn tín dụng ưu đãi ODA của Nhật Bản cho Việt
Nam trong thời gian qua mới đạt mức trung bình tăng khoảng 4% năm. Mặc dù
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN
đây được thừa nhận là có sự cố gắng rất lớn của Việt Nam, năm 1992 mức giải
ngân mới chỉ đạt khoảng 3%; năm 1996 đạt 6%; năm 1998 đạt 14,9%.
Trong thời gian qua đã có một số chương trình dự án ODA đã thực hiện
xong và hiện đang phát huy tác dụng tích cực trong sự nghiệp phát triển kinh tế -
xã hội của Việt Nam như nhà máy nhiệt điện sử dụng khí thiên nhiên Phú Mỹ 2
-giai đoạn 1; một số đoạn đường, cầu trên các đường quốc lộ số 1, số 5; nhiều
bệnh viện ở các thành phố và thị xã như bệnh viện Chợ Rẫy (Thành phố Hồ Chí
Minh), Việt Đức (Hà Nội) và nhiều trường học cũng được xây dựng ở nhiều
nơi.
Bên cạng những kết quả đạt được trong cơng tác huy động, tiềp nhận quản
lý và sử dụng vốn ODA trong thời gian qua vẫn còn bộc lộ khơng ít tồn tại ảnh
hưởng tới hiêụ quả sử dụng vốn. Tốc độ giải ngân đối với các dự án sử dụng
ODA các năm qua có tằng lên nhưng vẫn còn q chậm do các ngun nhân
sau:
Thứ nhất, khâu khảo sát thiết kế, chuẩn bị dự án chất lượg khơng cao nên
giai đoạn thực hiện dự án phải khảo sát, thiết kế lại, hoặc phải bổ sung thiết kế
mất nhiều giời gian và chính sách giải quyết thủ tục về đất đai khơng được đồng
bộ với chíng sách tín dụng.
Thứ hai, u cầu của các nhà tài trợ về việc chấp hành ngun tắc đấu
thầu khắt khe và phức tạp, nên việc triển khai đấu thầu chập, quy trình đấu thầu,
xét thầu, giao thầu kéo dài hơn so với kế họach do có sự khác biệt giữa thủ tục
trong nước và nước ngồi.
Thứ ba, năng lực của các cơ quan thực hiện dự án còn hạn chế, trình độ
năng lực quản lý nợ của các cán bộ còn yếu kém, chính sách của nhà nước chưa
đầy đủ, đồng bộ, thủ tục hành chính còn rườm rà. Chính vì vậy việc giải ngân
ODA thấp và gây ra một số bất lợi cho Việt Nam, đó là các cơng trình thực hiện
khơng đúng tiến độ ảnh hưởng tới tốc độ tăng trưởng kinh tế giảm hiệu quả sử
dụng vốn, ảnh hưởng tới thực hiện các nhiệm vụ kinh tế - xã hội đã họach định.
Từ thực tế trên, để tăng cường quản lý, tăng tốc độ giải ngân, sử dụng nguồn
vốn ODA hiệu quả, chúng ta cần có những biện phát hữu hiệu hơn để phát huy
được hiệu quả của nguồn vốn này trong phát triển kinh tế - xã hội của đất nước.
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN
II. Viện trợ ODA Nhật Bản cho Việt Nam - những kết quả đạt được
và những khó khăn tồn tại.
Nhật Bản là nước có quan hệ viện trợ cho Việt Nam từ rất sớm và chính
thức được phát triển từ năm 1975, nhưng đến năm 1979 Nhật Bản đình chỉ vốn
ODA cho Việt Nam. Tháng 11 năm 1992 Nhật chính thức cơng bố nối lại viện
trợ ODA cho Việt Nam và bắt đầu cho Việt Nam vay 45,5 tỷ n với lãi suất ưu
đãi 1%/ năm trong vòng 30 năm, trong đó 10 năm đầu khơng phải trả lãi.
Quyết định của Nhật Bản khơi phục viện trợ ODA cho Việt Nam có một ý
nghĩa quan trọng trong quan hệ Việt Nam - Nhật Bản, mở ra một thời kỳ mới
trong quan hệ hợp tác trên rất nhiều lĩng vực giữa hai quốc gia.
Về phía Nhật Bản, quyết định này phản ánh ý chí mạnh mẽ của Nhật
nhằm đóng vai trò lớn hơn và độc lập hơn trong việc tạo lập một hệ thống mới
những mối quan hệ quốc tế trong khu vực và trên thế giới, một vai trò tương
ứng với tầm vóc kinh tế của Nhật Bản trong thời kỳ sau chiến tranh lạnh. Quyết
định này cũng được xem như một dấu hiệu về việc cơng khai sự ủng hộ của
Nhật đối với chính sách đổi mới tồn diện của Việt nam, giúp Việt Nam nhanh
chónh hồ nhập với cộng đồng quốc tế mà trước hết là với tổ chức ASEAN, thúc
đẩy q trình bình thường hố quan hệ giữa Mỹ và Việt Nam; thiết lập các mối
quan hệ về thương mại và đầu tư lâu dài với giới kinh doanh Nhật Bản.
Về phía Việt Nam, trong thực tế việc Nhật Bản quyết định viện trợ ODA
trở lại cho Việt Nam vào thời điểm khi Mỹ vẫn chưa xố bỏ lệnh cấm vận của
họ với Việt Nam và tiếp tục gây áp lực ngăn cản Nhật Bản mở rộng viện trợ cho
Việt Nam, do vậy nối lại viện trợ là một nguồn động viên hết sức to lớn cho Việt
Nam. Nhật Bản viện trợ ODA trở lại khơng những chỉ giúp kích thích sự phát
triển trên các mặt kinh tế, xã hội của Việt Nam, thu hút nhiều nguồn viện trợ và
đầu tư nước ngồi vào Việt Nam, tạo điều kiện thuận lợi cho việc củng cố và
phát triển mở rộng quan hệ thương mại cũng như hợp tác kinh tế giữa hai nước,
mà còn đóng góp vào việc khái thác các nguồn viện trợ đa phương, tạo ra những
cơ hội cho liên doanh với nước ngồi ở Việt Nam và tạo ra động lực để cải thiện
và mở rộng các mối quan hệ quốc tế của Việt Nam.
Cùng với việc cấp trở lại ODA song phương cho Việt Nam, Nhật Bản đã
đóng vai trò tích cực trong việc giúp Việt Nam khai thác các nguồn viện trợ
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN
khác từ các tổ chức tài chính và tiền tệ quốc tế như Ngân háng Thế giới (WB),
Quỹ tiền tệ quốc tế (IMF) và các tổ chức quốc tế khác. Nhật Bản là nước cung
cấp viện trợ lớn nhất trong số 23 nước và 17 tổ chưc quốc tế tham dự Hội ghị
các nhà tài trợ cho Việt Nam được tổ chức lần đầu tiên trong lịch sử tại Paris
vào tháng 11 năm 1993 nhằm mục đích thảo luận phương hướng trợ giúp đối với
q trình khơi phục kinh tế ở Việt Nam.
Năm 1992 là năm đánh dấu bước ngoặt trong quan hệ Việt Nam - Nhật
Bản, đặc biệt thể hiện ở quan hệ viện trợ phát triển. Việt Nam trở thành 1 trong
10 nước đứng đầu danh sách nhận viện trợ ODA song phương của Nhật Bản với
số vốn là 281,24 triệu USD, đứng thứ 6 sau các nước như Inđơnêxia là 1356,71
triệu USD, Trung Quốc: 1050,76 triệu USD, Philippin: 1030,67 triệu USD, Ấn
Độ: 425,29 triệu USD và Thái Lan: 413,97 triệu USD. Nhật Bản cũng đã trở
thành nước cung cấp ODA lớn nhất cho Việt Nam, tiếp theo là Thụy Điển:
59,01 triệu USD, Italia: 26,35 triệu USD và Pháp: 19,62 triệu USD.
Đến năm 1993, Việt Nam xếp thứ 9 trong số các nước nhận viện trợ
khơng hồn lại của Nhật Bản với số tiền là 6720 triệu n, sau Bănglađét với
19287 triệu n rồi đến Philippin, Trung Quốc, Cămpuchia, Hylạp, Inđonêxia,
Nêpan và Pakistan.Trong năm 1993 nhật Bản đã cam kết các khoản cho vay
hàng hố và cho vay dự án giúp Việt Nam xây dựng lại cơ sở hạ tầng về kinh tế
và ký văn bản nghi nhớ vào tháng 1 năm 1994.
tháng 11 năm 1993 một nhóm chun gia Nhật Bản được cử sang Việt
Nam giúp soạn thảo Bộ luật Dân sự và cải cách hệ thống quản lý điều hành
chính ở các chính quyền địa phương. Tháng 8 năm 1994, Thủ tướng Nhật Bản
Tomiichi Myazawa sang thăm hữu nghị chính thức Việt Nam đã ký các văn kiện
về việc viện trợ khơng hồn lại cho Việt Nam 7733 triệu n.
Năm 1994 Việt Nam đứng số 12 trong số các nước nhận viện trợ khơng
hồn lại của Nhật Bản với số tiền là 58,76 triệu USD. Ngồi ra, Nhật còn viện
trợ hợp tác kỹ thuật cho Việt Nam trị gia 24,46 trriệu USD. Việt Nam đứng thứ
16 trong số các nước nhận viện trợ song phương của Nhật Bản. Đến đầu năm
1995, Nhật Bản đã cho Việt Nam vay 165 tỷ n, bao gồm cả 97,8 tỷ n từ khi
khơi phục viện trợ vào năm 1992.
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN
Đi đơi với việc nối lại viện trợ ODA song phương cho Việt Nam, Nhật
Bản còn đóng vai trò tích cực giúp Việt Nam khai thác nguồn viện trợ từ các tổ
chức quốc tế. Ngân hàng xuất khẩu Nhật Bản cùng với 8 ngân hàng khác và
Ngân hàng Thương mại của Pháp đã cho Việt Nam vay 85 triệu USD để thanh
tốn các khoản nợ tín dụng của Quỹ Tiền tệ quốc tế, do vậy Việt Nam đã được
Quỹ Tiền tệ quốc tế cho vay 223 triệu USD vào năm 1993.
Năm 1995 khi Việt Nam đã thực sự hội nhập vào các quan hệ hợp tác khu
vực, những cải cách thị trường đã trở nên hớp dẫn hơn đối với các nhà đầu tư
Nhật, ví dụ độ rủi ro cho các khoản đầu tư trực tiếp ít đi và Nhật Bản đã thúc
đẩy mạnh mẽ ODA cho Việt Nam. Ngày 21 - 4 - 1995, trong chuyến thăm Nhật
Bản của Tổng Bí thư Đỗ Mười, Nhật Bản và Việt Nam đã ký một hiệp định tín
dụng trị giá 58 tỷ n cho 8 dự án của Việt Nam, bao gồm: các dự án về xây
dựng nhà máy nhiện điện và thuỷ điện. Viện trợ khơng hồ lại để cải tạo hệ
thống cấp nước khu vực Gia Lâm là 6,5 triệu n, trang bị lại Khoa Nơng nghiệp
Trường Đại học Cần Thơ là 788 triệu n, trang bị máy móc y tế cho thành phố
Hà Nội 590 triệu n. Đây là khoản tín dụng ưu đãi với lãi suất 1,8%/ năm, thời
gian vay 30 năm, trong đó 10 năm đầu khơng phải trả lãi. Hai nước cũng đã ký
được một hiệp định viện trợ văn hố với trị giá 42 triệu n để trang bị cho
phòng học tiếng Nhật của Trường Đại học Ngoại thương. Đồng thời Nhật Bản
cũng cam kết viện trợ khơng hồn lại 3 tỷ n để hỗ trợ cơng cuộc cải cách ở
Việt Nam.
Tháng 6 năm 1995, trong chuyến thăm Việt Nam của Thứ trưởng Ngoại
giao Nhật Bản, phía Nhật Bản đã cam kết viện trợ khơng hồn lại cho Việt Nam
1947 triệu n ( khoảng 23 triệu USD) để thực hiện giai đoạn hai, xây dựng
cảng cá Vũng Tàu; 238 triệu n (khoảng 2,6 triệu USD) để thực hiện chương
trình tiêm chủng mở rộng; và 85000 USD hỗ trợ cho Việt Nam tham gia một số
họat động của ASEAN. Tính chung trong năm 1995, Nhật Bản đã thoả thuận
cho Việt Nam vay 70 tỷ n.
Trong chuyến thăm hữu nghị chính thức của Bộ trưởng Ngoại giao Nhật
Bản vào ngày 27 - 7 - 1996, phía Nhật Bản đã cam kết viện trợ khơng hồn lại
cho Việt Nam 3,557 tỷ n (khoảng 35 triệu USD) cho dự án xây dựng cầu nơng
thơn và miền núi phía bắc, và 45,1 triệu n (khoảng 450.000 USD) viện trợ văn
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN
hố nhằm cung cấp thiết bị nghe nhìn cho Khoa tiếng Nhật Trường Đại học
Ngoại ngữ Hà Nội.
Nhìn chung viện trợ phát triển chính thức của Nhật Bản cho Việt Nam đã
tăng khá nhanh. Trong thời gian 8 năm, từ 1992 đến 1999 Nhật Bản đã cam kết
cho Việt Nam vay 6.335 triệu USD, đặc biệt năm 1998 và 1999, mặc dù vẫn còn
rất khó khăn về kinh tế do ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng kinh tế, nhưng
Nhật Bản vẫn cam kết cho Việt Nam vay 835 triệu USD (năm 1998) và 1,1 tỷ
USD (năm 1999, chiếm hơn một nửa trong tổng số 2,1 tỷ USD mà các nhà tài
trợ quốc tế đã cam kết cho Việt Nam vay).
Bảng 2: Quy mơ ODA của Nhật Bản cug cấp cho Việt Nam
(đơn vị tính:100 triệu n)
Năm/ Loại hình 1993 1994 1995 1996 1997 1998 1999
Viện trợ khơng hồn lại 19,19 75,86 80,47 121,48 125,47 125 143
Tín dụng ưu đãi 455 523,04 580 700 810 850 880
Lãi suất 1% 1% 1,8% 2,3% 2,3% 2,3% 2,3%
(Theo: Hỗ trợ phát triển chính thức ODA…NXB giáo dục - 2000)
Bước sang thế kỷ XXI, trong năn 2001 Chính phủ Nhật Bản đã chính thức
ký Hiệp định tài trợ cho các dự án quan trọng như đường dây tải điện 500KV
Phú Mỹ - Nhà Bè - Phú Lâm (114,15 triệu USD), cầu Cần Thơ (216,04 triệu
USD), viện trợ khơng hồn lại 13,63 triệu USD…cũng trong năm 2001 do nền
kinh tế bị suy thối và ý kiến trong nước phản đối việc gia tăng lượng ODA
ngày một cao, đồng thời nhằm hạn chế bớt khoản nợ chính phủ vốn đã rất cao
(130% GDP), Chính phủ Nhật Bản buộc phải cắt giảm ngân quỹ dành cho ODA.
Tuy vậy mức ODA cam kết cho Việt Nam trên cơ sở đồng n vẫn tăng 8% với
mục đích nhằm hỗ trợ Việt Nam xây dựng các cơng trình cơ sở hạ tầng, phục vụ
phát triển kinh tế - xã hội như: Sân bay Tân Sơn Nhất, cầu Bãy Cháy, cầu Thanh
Trì, nhà máy nhiệt điện Ơmơn v v…Tổng số ODA trong năm 2001 gần 700 triệu
USD.
Trong bài phát biểu của Thủ Tướng Nhật hồi giữa năm 2001, Nhật Bản đã
cam kết thúc đẩy viện trợ cho Việt Nam. Ngày 28 - 11 - 2001, nhân lễ kỷ niệm
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN
lần thứ 10 Nhật nối lại viện trợ ODA cho Việt Nam, hai bên đã thoả thuận 5
lĩnh vực cơ bản mà nguồn vốn ODA sẽ tẩp trung vào: 1- Đào tạo con người và
xậy dựng cơ chế thúc đẩy việc dịch chuyển sang nền kinh tế thị trường; 2 - Nâng
cầp cơ sở hạ tầng kinh tế như điện lực, vận tải; 3 - Phát triển nơng nghiệp nơng
thơn; 4 - Giáo dục và chữa bệnh; 5 - Mơi trường.
Nhìn chung hình thức chủ yếu trong viện trợ ODA của Nhật Bản cho Việt
Nam là dạng tín dụng ưu đãi, chiếm 90%. Tỷ lệ viện trợ khơng hồn lại trong
ODA của Nhật Bản cho Việt Nam còn tương đối thấp, khoảng 10%. Hiện tại các
khoản vay lớn nhất là khoản vay hàng hố (53%), điện và khí đốt (28%), giao
thơng vận tải và thơng tin liên lạc (khoảng19%). Các hàng hố này được sử
dụng cho mục đích ngắn hạn, nhưng việc trả nợ lại là dài hạn, do đó chúng cần
được sử dụng một cách có hiệu quả nhất.
Các khoản ODA của Nhật Bản cũng như các tổ chức quốc tế khác đều
chủ yếu hướng vào các dự án cải tạo, nâng cấp và xây dựng mới hạ tầng cơ sở
của Việt Nam như nâng cấp đường quốc lộ xun Việt, xửa chữa đường xe lửa
Hà Nội - thành phố Hồ Chí Minh, nân cấp cảng Hải Phòng, cải tạo và hồn
chỉnh các hệ thống cấp thốt nước của một số tỉnh và thành phố.
Bên cạnh những thành tựu đã nêu trên, Việt Nam cũng còn tồn tại nhiều
khó khăn bởi vì q trình tiếp nhận và sử dụng ODA ở Việt Nam còn đang rất
mới mẻ, chúng ta vừa học tập vừa thực hành trong điều kiện có nhiều khác biệt
về quy định giữa trong nước và nước ngồi, có nhiều khác biệt trong thủ tục
cung cấp ODA giữa các nhà tài trợ…chắc chắn khơng tránh khỏi những thiếu
sót trong khâu tiếp nhận và sử dụng cụ thể là:
Cơ chế quản lý và sử dụng các nguồn viện trợ còn nhiều điểm chồng
chéo, rườm rà nên đơi lúc dẫn đến tình trạng chậm trễ trong việc thành lập các
Ban quản lý dự án. Ví dụ như một dự án thuộc lĩnh vực lâm nghiệp khi đã có
hiệu lực 3 tháng mà vẫn khơng mở được t khoản do thiếu nhân lực, sau 5
tháng dự án này mới rút được một khoản tiền tạm ứng để họat động.
Theo các chun gia nước ngồi, sự thống nhất giữa các cơ quan liên
quan với cấp Bộ và Ban quản lý dự án chưa được chú trọng; từng hiệp định cụ
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN
Đăng ký:
Đăng Nhận xét (Atom)
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét