Thứ Hai, 17 tháng 2, 2014

Luận văn thạc sĩ về nâng cao năng lực cạnh tranh của Cty CP dây cáp điện VN sau khi VN gia nhập WTO

3.4.4 Xây dựng hệ thống thông tin, áp dụng công nghệ thông tin trong quản
lý 71
3.4.5 Xây dựng văn hóa doanh nghiệp 71
KẾT LUẬN CHƯƠNG 3 73
KẾT LUẬN 74
PHỤ LỤC
TÀI LIỆU THAM KHẢO

5


DANH MỤC CÁC BẢNG

Trang

Bảng 2.1 Giá trò tổng sản lượng và doanh thu năm 2000-2006 29
Bảng 2.2 Cơ cấu bảng cân đối kế toán 2000-2006 33
Bảng 2.3 Phân tích biến động tài sản và nguồn vốn 2005-2006 35
Bảng 2.4 Bảng phân tích nguồn vốn tín dụng và vốn chiếm dụng 2005-2006 36
Bảng 2.5 Các chỉ số tài chính giai đoạn 2000-2006 38
Bảng 2.6 Cơ cấu chi phí trong giá thành sản phẩm 2000-2006 39
Bảng 2.7 Tỷ trọng chi phí sản xuất kinh doanh với doanh thu 2000-2006 39
Bảng 2.8 Phân tích hiệu quả sử dụng chi phí sản xuất kinh doanh 40
Bảng 2.9 Kết quả sản xuất kinh doanh năm 2005-2006 41
Bảng 2.10 Cơ cấu doanh thu năm 2005-2006 và 6 tháng đầu năm 2007 45
Bảng 2.11 So sánh các tỷ số tài chính của CADIVI và TAYA 48


DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ

Trang
Biểu đồ 2.1 Giá trò tổng sản lượng và doanh thu các năm 2000- 2006 29
Biểu đồ 2.2 Biến động giá đồng trong thời gian qua 32
Biểu đồ 2.3 Hiệu suất sử dụng chi phí 40

6

LỜI MỞ ĐẦU
1. Sự cần thiết của đề tài
Toàn cầu hóa đang trở thành một sức ép lớn lên nền kinh tế nước ta, nó đòi
hỏi sự hội nhập toàn diện, bình đẳng và sáng tạo, đòi hỏi doanh nghiệp Việt Nam
phải có thế và lực tương xứng để có thể hấp thu toàn bộ các cơ hội và đương đầu
với những thách thức phát sinh.
Trong nền kinh tế thò trường ở Việt Nam hiện nay, bất kỳ doanh nhân nào
khi bước chân vào chốn thương trường cũng đều mong muốn doanh nghiệp mình sẽ
tồn tại và ngày càng phát triển với lợi nhuận không ngừng tăng lên. Để thực hiện
được điều này, đòi hỏi họ – những nhà quản trò doanh nghiệp tài ba phải dành rất
nhiều thời gian và công sức để dự báo được môi trường kinh doanh một cách chính
xác; phân tích được các mặt mạnh, mặt yếu của đối thủ, nhưng trên hết phải đánh
giá đúng thực lực, khả năng của doanh nghiệp mình, từ đó xác đònh được cơ hội,
thách thức cũng như từng điểm mạnh, điểm yếu sẽù ảnh hưởng đến vò thế của doanh
nghiệp mình trong quá trình cạnh tranh. Và từ nền tảng này, đề xuất những thay đổi
cần thiết, đồng thời hoạch đònh các chiến lược kinh doanh hữu hiệu để giành lấy lợi
thế cạnh tranh.
Để đạt được lợi thế cạnh tranh đòi hỏi doanh nghiệp phải thực hiện hàng loạt
vấn đề quản trò mang tính hệ thống: phải có sự tham gia đồng bộ của tất cả mọi
thành viên trong tổ chức; các nhà quản trò doanh nghiệp phải có sự năng động và
sáng tạo đủ sức thích ứng với môi trường kinh doanh, đồng thời hoạt động của các
bộ phận trong doanh nghiệp phải đạt hiệu suất cao nhằm tạo ra một sự cộng hưởng
mạnh mẽ để đạt được mục tiêu mà doanh nghiệp đề ra, trên cơ sở đó tạo dựng được
lợi thế kinh doanh cao nhất. Năng lực cạnh tranh - đó sẽ là một bức tường vững

7
chắc bảo vệ hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp, đồng thời nó còn là một loại
vũ khí lợi hại đánh bạt được các đối thủ. Vì vậy, có thể nói lợi thế cạnh tranh là nền
tảng cho sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp.
Đối với nền kinh tế nước ta, với việc gia nhập WTO, đây là một cuộc đọ sức
quyết liệt của các doanh nghiệp Việt Nam khi phải tranh tài với các đối thủ vốn có
nhiều thế mạnh về vốn, về năng lực quản trò, và trình độ kinh tế, khoa học kỹ thuật
và công nghệ…Vì vậy, hơn lúc nào hết, quá trình tìm hiểu, phân tích năng lực cạnh
tranh và tìm ra các giải pháp để tạo dựng và phát huy được những lợi thế kinh
doanh, là con đường tất yếu mà các doanh nghiệp Việt nam phải thực hiện để tồn
tại và phát triển.
2. Mục tiêu, phạm vi nghiên cứu:
Trong luận văn này, tôi muốn đề cập đến năng lực cạnh tranh và các giải
pháp để tăng cường năng lực cạnh tranh của Công ty cổ phần dây cáp điện Việt
Nam (CADIVI) sau khi Việt Nam gia nhập vào WTO.
3. Phương pháp nghiên cứu:
Kết hợp các phương pháp duy vật lòch sử, duy vật biện chứng, phân tích, so
sánh, tổng hợp. Từ việc phân tích thực trạng năng lực cạnh tranh của công ty
CADIVI để đưa ra những giải pháp nâng cao năng lực cạnh tranh cho công ty và
ngành dây cáp điện.


8

CHƯƠNG 1. TỔNG QUAN VỀ HỘI NHẬP KINH TẾ VÀ
NĂNG LỰC CẠNH TRANH

1.1. XU HƯỚNG HỘI NHẬP KINH TẾ QUỐC TẾ
Hiện nay, tất cả các quốc gia trên thế giới đều hòa mình vào một nền kinh tế
mở toàn cầu hóa. Xu hướng hội nhập kinh tế quốc tế đang trở thành mục tiêu chung
cho
nhiều nước.
Xu thế toàn cầu hóa và hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng gia tăng. Đây
vừa là quá trình hợp tác để phát triển vừa là quá trình đấu tranh giữa các nước để
bảo vệ lợi ích quốc gia.
Để tồn tại và phát triển trong môi trường cạnh tranh ngày càng quyết liệt,
những yêu cầu về tăng năng suất lao động, thường xuyên đổi mới và nâng cao chất
lượng sản phẩm, đổi mới công nghệ, đổi mới phương thức tổ chức quản lý, đang đặt
ra ngày càng gay gắt hơn. Đặc biệt, trong bối cảnh toàn cầu hóa kinh tế, các thành
tựu to lớn của công nghệ thông tin – truyền thông, xu hướng phổ cập Internet, phát
triển thương mại điện tử, kinh doanh điện tử, ngân hàng điện tử, Chính phủ điện tử,
v.v đang tạo ra các lợi thế cạnh tranh mới của các quốc gia và từng doanh nghiệp.
Đối với các nước đang phát triển nếu không chủ động chuẩn bò về nguồn
nhân lực, tăng cường cơ sở hạ tầng thông tin – viễn thông, điều chỉnh các quy đònh
về pháp lý, v.v thì nguy cơ tụt hậu ngày càng xa và thua thiệt trong quan hệ trao
đổi quốc tế là điều khó tránh khỏi.
Toàn cầu hóa kinh tế là quá trình phát triển mới của sự phân công lao động
và hợp tác sản xuất vượt qua khỏi biên giới quốc gia, vươn tới quy mô toàn thế giới,

9
đạt trình độ và chất lượng mới. Có thể nói đó là nhu cầu tất yếu của quá trình phát
triển lực lượng sản xuất. Sự lớn mạnh của lực lượng sản xuất khiến thò trường nội
đòa trở nên nhỏ hẹp, đòi hỏi các quốc gia phải ngồi lại với nhau khơi thông dòng
chảy của hàng hóa, dòch vụ, đồng vốn và sức lao động. Họ đấu tranh và thỏa hiệp
với nhau nhằm mở rộng hơn nữa thò trường cho nền kinh tế phát triển, và Việt Nam
không thể nào đứng ngoài xu thế đó. Bởi vì, có thể nói rằng nếu chúng ta cự tuyệt
hay khước từ toàn cầu hóa nền kinh tế tức là chúng ta đã tự gạt mình ra ngoài lề
của quy luật phát triển.
Đặc trưng nổi bật của toàn cầu hóa kinh tế là nền kinh tế thế giới tồn tại và
phát triển như một chỉnh thể, trong đó mỗi quốc gia là một bộ phận, có quan hệ
tương tác lẫn nhau, phát triển với nhiều hình thức phong phú. Tham gia toàn cầu
hóa kinh tế, các quốc gia vẫn độc lập về chính trò, xã hội, vẫn là các chủ thể quyết
đònh ý thức hệ, vận mệnh và con đường phát triển của mình. Toàn cầu hóa kinh tế
sẽ làm cho các quốc gia ngày càng phụ thuộc nhau về vốn, kỹ thuật, công nghệ,
nguyên liệu và thò trường.
Xu thế tự do hóa thương mại làm giảm nhanh các hàng rào thuế quan và phi
thuế quan tạo điều kiện cho hàng hóa của các nước thâm nhập vào thò trường của
nhau một cách dễ dàng. Tự do hóa thương mại tất yếu dẫn đến sự có mặt của các
công ty xuyên quốc gia ở khắp các thò trường trên thế giới. Đây là cơ hội để các
quốc gia tận dụng được lợi thế so sánh của mình, là cơ hội để vươn lên, tránh sự tụt
hậu nhờ tiếp cận được những thành tựu khoa học, kỹ thuật, công nghệ tiên tiến. Tuy
nhiên, đi đôi với những cơ hội, chúng ta còn phải đối đầu với những thách thức mới
mà toàn cầu hóa mang lại. Nếu chính sách thương mại của một quốc gia không dựa
vào cơ sở nắm bắt nhu cầu của người tiêu dùng trong nước và quốc tế, hàng hóa rẻ,
chất lượng cao từ các quốc gia có nền kinh tế phát triển hơn, năng suất lao động cao

10
hơn sẽ cạnh tranh bóp chết nền sản xuất non trẻ và lạc hậu trong nước. Và khi ấy,
các nước đó chẳng những không chiếm lónh được thò trường nước ngoài mà còn có
nguy cơ mất cả thò trường trong nước.
Cũng như toàn cầu hóa, hội nhập kinh tế quốc tế là quá trình các doanh
nghiệp của một quốc gia tham gia một cách chủ động, tích cực vào nền kinh tế thế
giới. Hội nhập kinh tế quốc tế đã trở thành một xu thế khách quan trong thế giới
ngày nay khi làn sóng toàn cầu hóa đang diễn ra vô cùng mạnh mẽ.
Hội nhập kinh tế của các nền kinh tế chuyển đổi trong đó có Việt Nam là
quá trình thực hiện tự do hóa thương
mại và thực hiện cải cách toàn diện theo
hướng mở cửa thò trường. Từ đó đem lại nhiều cơ hội kinh tế như hàng hóa xuất
khẩu có thể tiếp cận thò trường tốt hơn, thu hút được nhiều vốn đầu tư nước ngoài
hơn và nhiều lợi ích gián tiếp khác đi liền với cạnh tranh quốc tế gay gắt và tăng
dần hiệu quả kinh tế theo quy mô.
Động lực của hội nhập kinh tế quốc tế chính là lợi ích mà các doanh nghiệp
tham dự có thể thu được nhờ vào sự mở rộng thương mại hàng hóa, dòch vụ và đầu
tư trực tiếp nước ngoài (FDI). Việc mở rộng này là hoàn toàn phù hợp với công
nghệ đang thay đổi, làm giảm chi phí vận tải và thông tin liên lạc quốc tế, tạo điều
kiện cho việc khuyếch trương các hoạt động sản xuất và tiếp thò của các doanh
nghiệp trên khắp thế giới. Song, do khởi điểm mà các doanh nghiệp tham gia hội
nhập khác nhau, lợi ích mà họ thu được từ hội nhập kinh tế và tự do hóa không thể
ngang nhau. Những doanh nghiệp thuộc các quốc gia kém phát triển do hạn chế về
năng lực cung ứng các nguồn lực, họ không được lợi trong thương mại. Trong lúc
nhiều doanh nghiệp thuộc các quốc gia đang phát triển đã mạnh dạn áp dụng chính
sách mở cửa, thu hút FDI và đẩy nhanh thương mại, nhờ đó đã rút ngắn được
khoảng cách so với các nước phát triển.

11
Cho dù đã và sẽ còn những nghi ngại đối với toàn cầu hóa, nhưng không thể
phủ nhận và né tránh ảnh hưởng khách quan của nó đối với tất cả các nước. Trong
tiến trình toàn cầu hóa, chắc chắn là cạnh tranh quốc tế sẽ ngày càng mạnh mẽ và
quyết liệt hơn.
1.2. VAI TRÒ VÀ LI ÍCH TỪ WTO MANG LẠI CHO CÁC NƯỚC
THÀNH VIÊN
1.2.1. WTO – Lòch sử hình thành và phát triển
WTO (World Trade Organization) là tổ chức thương mại thế giới ra đời ngày
01/01/1995. Tuy chỉ mới ra đời được 12 năm, nhưng thực tế WTO đã có bề dày lòch
sử nửa thế kỷ (xem phụ lục 1).
WTO là diễn đàn đàm phán thương mại (Negotiating forum), là nơi đề ra các
quy tắc thương mại (Set of rules), giúp giải quyết các tranh chấp thương mại (Settle
disputes).
WTO được hình thành từ các cấp:
− Hội nghò cấp bộ trưởng (Ministerial Conference), thường họp 2 năm 1 lần.
Đây là cơ quan có quyền ra quyết đònh cao nhất ở WTO. Hội nghò cấp bộ trưởng sẽ
thực hiện hành động cần thiết theo các chức năng.
− Đại hội đồng (General Council), đây là bộ phận đại diện các nước thành
viên. Đại hội đồng sẽ họp giữa các kỳ họp cấp bộ trưởng.
− Hội đồng các cấp, đây là hội đồng về các lónh vực như:
+ Thương mại hàng hóa (Council for Trade in Goods)
+ Thương mại dòch vụ (Council for Trade in Services)
+ Sở hữu trí tuệ (Aspects of Intellectual Property Rights)
− Các tiểu ban, đây là cấp túc trực thuộc đại hội đồng và các hội đồng.

12
Mục tiêu của WTO là thúc đẩy mậu dòch tự do, hoạt động thương mại công
bằng, thông suốt và mở rộng hơn nữa thò trường thế giới.
Muốn gia nhập WTO, các nước đều phải trải qua 3 giai đoạn gồm: nộp đơn,
đàm phán gia nhập và kết nạp. Điều khác biệt là về thời gian và thỏa thuận đáp
ứng yêu cầu từ các bên liên quan.
Đàm phán gia nhập WTO cần phải trải qua 2 giai đoạn:
1. Công khai hóa chính sách về cơ chế thương mại có liên quan đến hiệp
đònh WTO. Trong quá trình nhóm công tác WTO xem xét, các thành viên còn lại sẽ
có quyền đặt câu hỏi mà họ quan tâm liên quan đến lónh vực kinh tế.
2. Đàm phán trải qua 2 tiến trình: đàm phán đa phương và song phương. Đàm
phán đa phương là cuộc họp của nhóm công tác WTO với nước muốn gia nhập
WTO, còn đàm phán song phương là đàm phán theo yêu cầu của các nước thành
viên. Việt Nam khi gia nhập WTO, có 28 nước yêu cầu đàm phán song phương với
ta. Trong đó có 3 nước ta đã ký kết song phương từ trước, còn lại ta phải đàm phán
với 25 nước trước khi nhóm công tác WTO xét kết nạp nước ta.
Hiện nay, WTO có 150 thành viên.
1.2.2. Vai trò và lợi ích của việc gia nhập WTO
− Đây là tổ chức góp phần gìn giữ hòa bình.
− Giải quyết các tranh chấp thương mại trong nội bộ WTO một cách xây
dựng.
− WTO hành động theo pháp luật quốc tế, không dựa vào quyền lực.
− Cắt giảm thuế và hàng rào phi thuế quan.
− Người tiêu dùng có nhiều cơ hội và quyền lựa chọn hơn
− Tăng thu nhập quốc gia và cho người dân.
− Giúp tăng trưởng kinh tế của các quốc gia thành viên.

13
− Cắt giảm chi phí, hiệu quả kinh tế cao hơn
− Bảo vệ quyền lợi kinh tế của các quốc gia thành viên
− Giúp đònh ra hệ thống chính sách kinh tế quốc tế hoàn thiện hơn.
1.3. CƠ
HỘI VÀ THÁCH THỨC SAU KHI GIA NHẬP WTO
1.3.1
Cơ hội và thách thức đối với Việt Nam
Trong trào lưu hội nhập kinh tế quốc tế, việc gia nhập WTO sẽ mang lại
nhiều cơ hội và thách thức cho nền kinh tế Việt Nam, một nền kinh tế đang ở thời
kỳ đầu của sự phát triển với nhu cầu vốn đầu tư rất lớn. Việc tham gia cùng sân
chơi thương mại, dòch vụ tài chính, ngân hàng… một cách bình đẳng sẽ tạo cơ hội
cho Việt Nam mở rộng đầu tư, thu hút vốn từ bên ngoài, cùng với vốn là kỹ thuật
công nghệ, kinh nghiệm, tri thức về điều hành, quản trò tài chính… để phát triển nền
kinh tế.
Việt Nam hiện nay là thành viên tích cực của Hiệp hội các quốc gia Đông
Nam Á (ASEAN), diễn đàn hợp tác kinh tế Châu Á – Thái Bình Dương (APEC), và
diễn đàn hợp tác Á – u (ASEM). Nhờ hội nhập quốc tế mà
kim ngạch xuất khẩu
của Việt Nam đã tăng từ 3 tỷ USD năm 1986 đến 35.8 tỷ năm 2002, đạt 39.6 tỷ
USD năm 2006, 6 tháng đầu năm 2007 đạt 22.455 tỷ USD.
Thực tế đã cho thấy các quốc gia sau khi gia nhập WTO đều có vò thế cao
hơn. Bằng cách tham gia vào WTO các nước nhỏ như Việt Nam cũng được hưởng
những lợi ích mà tất cả các thành viên trong WTO dành cho nhau.
Như vậy, trong xu hướng toàn cầu hóa nền kinh tế thế giới ngày nay, nếu
không hội nhập mà tiếp tục đóng cửa thì nguy cơ tụt hậu tất yếu sẽ trở thành hiện
thực. Theo đuổi chính sách hội nhập một cách thận trọng và khôn khéo sẽ góp phần
nâng cao trình độ, chuẩn mực về hoạch đònh chính sách, tạo thuận lợi cho thương
mại, đồng thời duy trì được mức bảo hộ hợp lý cho các ngành kinh tế, giúp các

14

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét