Chủ Nhật, 9 tháng 2, 2014

Luận văn :Cổ phần hoá doanh nghiệp nhà nước trên địa bàn Hà Nội


chương 1
Một số vấn đề lý luận về cổ phần hoá
Doanh nghiệp nhà nước
1.1. sự cần thiết phải cổ phần hoỏ doanh nghiệp nhà nước
1.1.1. doanh nghiệp nhà nước và vai trũ của doanh nghiệp nhà nước
1.1.1.1. Khái niệm doanh nghiệp nhà nước
Theo luật doanh nghiệp nhà nước do Quốc hội nước Cộng hoà Xó hội
chủ nghĩa Việt Nam ban hành ngày 20/04/1995 thỡ doanh nghiệp nhà nước
được định nghĩa như sau: Doanh nghiệp nhà nước là tổ chức kinh tế do nhà
nước đầu tư vốn, thành lập và tổ chức quản lý, hoạt động kinh doanh hoặc
hoạt động công ích, nhằm thực hiện các mục tiờu kinh tế xó hội do nhà nước
giao.
Như vậy doanh nghiệp nhà nước là tổ chức kinh tế được nhà nước
thành lập để thực hiện những mục tiêu do nhà nước giao. Và vỡ doanh nghiệp
nhà nước do nhà nước đầu tư vốn nên tài sản trong doanh nghiệp là thuộc sở
hữu nhà nước, cũn doanh nghiệp chỉ quản lý, sử dụng tài sản theo quy định
của chủ sở hữu là nhà nước.
Doanh nghiệp nhà nước có tư cách pháp nhân có các quyền và nghĩa vụ
dân sự, tự chịu trách nhiệm về toàn bộ hoạt động kinh doanh trong phạm vi số
vốn do doanh nghiệp quản lý. Nghĩa là doanh nghiệp nhà nước chịu trách
nhiệm hữu hạn về nợ và cỏc nghĩa vụ tài sản khỏc trong phạm vi số tài sản do
doanh nghiệp quản lý.
Tất cả các doanh nghiệp nhà nước đều là tổ chức kinh tế do nhà nước
thành lập. Tài sản trong doanh nghiệp là một bộ phận của tài sản nhà nước do
nhà nước đầu tư vốn và nhà nước sở hữu về vốn. Doanh nghiệp nhà nước là
một chủ thể kinh doanh nhưng chỉ có quyền quản lý kinh doanh trờn cơ sở sở
hữu của nhà nước. Doanh nghiệp nhà nước là đối tượng quản lý trực tiếp của
nhà nước, chịu trách nhiệm trước nhà nước về việc bảo toàn và phát triển số
- 5 -

vốn của nhà nước giao cho, đồng thời thực hiện các mục tiêu mà nhà nước
giao.
1.1.1.2. Vai trũ của doanh nghiệp nhà nước
Hiện nay Việt Nam đang xây dựng và phát triển nền kinh tế hàng hoá
nhiều thành phần theo cơ chế thị trường có sự điều tiết của nhà nước, các
doanh nghiệp đều bỡnh đẳng trong kinh doanh và trước pháp luật. Nhưng
không có nghĩa là chúng có vị trí như nhau trong nền kinh tế. Phạm vi hoạt
động của thành phần này càng ngày càng giảm nhưng vẫn giữ vai trũ chủ
đạo. Nó tồn tại trong những ngành, lĩnh vực then chốt của nền kinh tế để nhà
nước có đủ sức thực hiện chức năng điều tiết vĩ mô, khắc phục những khiếm
khuyết của thị trường. Doanh nghiệp nhà nước là công cụ vật chất để nhà
nước can thiệp vào kinh tế thị trường điều tiết thị trường theo mục tiêu của
nhà nước đó đặt ra và theo đúng định hướng chính trị của nhà nước.
Doanh nghiệp nhà nước hoạt động trong những ngành, lĩnh vực kinh
doanh mang lại ít lợi nhuận hoặc không có lợi nhuận (mà các thành phần kinh
tế khác không đầu tư), do đó nó phục vụ nhu cầu chung của nền kinh tế, đảm
bảo lợi ích công cộng.
Hơn nữa, doanh nghiệp Nhà nước cũn đầu tư vào lĩnh vực kinh doanh
đũi hỏi vốn lớn mà cỏc thành phần kinh tế khỏc khụng đủ sức đầu tư, do đó
mà doanh nghiệp nhà nước lại càng cú vai trũ quan trọng. Việc đánh giá vai
trũ quan trọng của kinh tế nhà nước không chỉ dựa vào sự lời lỗ trước mắt mà
phải tính đến hiệu quả kinh tế lâu dài. Sự tồn tại của doanh nghiệp nhà nước
là một tất yếu khách quan. Để doanh nghiệp nhà nước phỏt huy vai trũ chủ
đạo của mỡnh, đũi hỏi nhà nước phải có chính sách quản lý thích hợp đối với
doanh nghiệp nhà nước. Nhưng cũng phải tôn trọng quy luật kinh tế khách
quan, để các doanh nghiệp nhà nước không là gánh nặng cho nhà nước về
kinh tế mà kinh tế nhà nước phải được sắp xếp lại cho hợp lý nâng cao hiệu
quả hoạt động của doanh nghiệp nhà nước.
- 6 -

1.1.2. Sự cần thiết phải cổ phần hoá doanh nghiệp nhà nước tại Việt
Nam.
1.1.2.1. Quan niệm về cổ phần hoá doanh nghiệp nhà nước và những ưu
việt của công ty cổ phần
Công ty cổ phần là doanh nghiệp trong đó các thành viên cùng nhau
góp vốn, cùng chia nhau lợi nhuận, cùng chịu lỗ tương ứng với phần vốn góp
và chỉ chịu trách nhiệm về các khoản nợ của công ty trong phạm vi số vốn của
mỡnh gúp vào cụng ty. (Theo luật cụng ty ngày 21 - 12 – 1990)
Công ty cổ phần mang lại hiệu quả kinh doanh cao góp phần hoàn thiện
cơ chế thị trường, do quan hệ đa sở hữu trong công ty cổ phần nên quy mô có
khả năng mở rộng, huy động vốn dễ, thu hút được nhiều nhà đầu tư và tiết
kiệm của dân cư, nên có thể mở rộng quy mô nhanh. Công ty cổ phần có thời
gian tồn tại lâu dài vỡ vốn gúp cú sự độc lập nhất định với các cổ đông. Trong
công ty cổ phần, quyền sử dụng vốn tách rời quyền sở hữu nên hiệu quả sử
dụng vốn cao hơn. Đó là vỡ vốn trao vào trong tay các nhà kinh doanh giỏi,
biết cách để làm cho đồng vốn sinh lời. Mặt khác, do cơ chế phân bổ rủi ro
đặc thù, chế độ trách nhiệm hữu hạn đối với các khoản nợ trong mức vốn của
công ty nên các nhà đầu tư tài chính có thể mua cổ phần, tạo cơ hội để huy
động vốn. Đặc biệt, cổ phần hoá doanh nghiệp nhà nước cũng là cách để
người lao động tham gia vào công ty chứ không phải là làm thuê nên tăng
trách nhiệm của họ đối với công việc.
Các doanh nghiệp nhà nước được tiến hành cổ phần hoá thỡ vốn chủ sở
hữu doanh nghiệp nhà nước được bán cho nhiều đối tượng khác nhau như các
tổ chức kinh tế xó hội, cỏc cỏ nhõn trong và ngoài doanh nghiệp đó tạo cơ chế
nhiều người cùng lo. Nhà nước có thể giữ lại một tỷ lệ cổ phần hoặc không.
Như vậy hỡnh thức sở hữu tại doanh nghiệp đó chuyển từ sở hữu nhà nước
duy nhất sang sở hữu hỗn hợp. Từ đây dẫn đến những thay đổi quan trọng về
hỡnh thức tổ chức quản lý cũng như phương hướng hoạt động cuả công ty.
- 7 -

Doanh nghiệp nhà nước sau cổ phần hoá sẽ tổ chức hoạt động theo luật doanh
nghiệp.
Có thể khái quát về cổ phần hoá doanh nghiệp nhà nước là một biện
pháp chuyển đổi hỡnh thức sở hữu trong doanh nghiệp từ sở hữu nhà nước
sang sở hữu của các cổ đông (trong đó nhà nước có thể tham gia với tư cách
cổ đông hoặc không tham gia). Đi đôi với việc chuyển đổi sở hữu là việc
chuyển đổi doanh nghiệp nhà nước sang hoạt động theo hỡnh thức cụng ty cổ
phần, được điều chỉnh theo các quy định trong Luật doanh nghiệp. Về hỡnh
thức, đó là việc nhà nước bán một phần hay toàn bộ giá trị cổ phần (vốn của
mỡnh trong doanh nghiệp cho cỏc cỏ nhõn tổ chức trong và ngoài doanh
nghiệp, hoặc trực tiếp tự doanh nghiệp theo cỏch bỏn giỏ thụng thường hay
bằng phương thức đấu giá hoặc qua thị trường chứng khoán.
Về bản chất, đó là phương thức thực hiện xó hội hoỏ đồng vốn thuộc
sở hữu nhà nước, chuyển từ doanh nghiệp 1 chủ sở hữu sang đa sở hữu, tạo
nên mô hỡnh doanh nghiệp hoạt động phù hợp kinh tế thị trường.
Sự phát triển mạnh mẽ của lực lượng sản xuất và trỡnh độ xó hội húa
sản xuất dẫn đến sự tập trung lớn về vốn xó hội là điều mà một cá nhân không
thể đáp ứng được.
Từ những lý do nờu trờn, cổ phần hoỏ doanh nghiệp nhà nước ở Việt
Nam hiện nay vừa là đũi hỏi khỏch quan, vừa là điều kiện quan trọng để thúc
đẩy phát triển kinh tế đất nước.
1.1.2.2. Sự cần thiết phải cổ phần hoá doanh nghiệp nhà nước
Các doanh nghiệp nhà nước ở Việt Nam được thành lập ngay sau khi
miền Bắc được giải phóng. Hoạt động của các doanh nghiệp nhà nước đó gúp
phần tớch cực vào sự nghiệp giải phúng miền Nam, thống nhất đất nước ( ví
dụ như: cung cấp các sản phẩm chủ yếu về tư liệu sản xuất và vật phẩm tiêu
dùng cho xó hội ). Nhưng do cơ chế bao cấp, nền kinh tế tự cung tự cấp kéo
dài cả khi đất nước đó hoà bỡnh thống nhất, dẫn đến triệt tiêu động lực sản
- 8 -

xuất kinh doanh. Sản xuất không theo nhu cầu mà theo chỉ tiêu pháp lệnh của
nhà nước, sản xuất đỡnh trệ khụng cú hiệu quả. Nhất là vào những năm 1960
tỡnh hỡnh trở nờn xấu hơn khi các doanh nghiệp không có khả năng cạnh
tranh trên thị trường quốc tế.
Mục đích của việc thành lập doanh nghiệp nhà nước nhằm tạo tích luỹ
cho ngân sách nhà nước, tạo việc làm cho người lao động nhưng trong thực tế
các doanh nghiệp nhà nước không đáp ứng được những mục tiêu này. Do
doanh nghiệp nhà nước thường có xu hướng tập trung vào những ngành cần
vốn lớn sử dụng ít lao động, cộng thêm với trỡnh độ của đội ngũ quản lý
doanh nghiệp có nhiều yếu kém, nên doanh nghiệp nhà nước hoạt động kém
hiệu quả không đảm bảo được các mục tiêu nhà nước đặt ra đối với doanh
nghiệp nhà nước khi thành lập.
Nguyờn nhân chủ yếu dẫn đến thực trạng kém hiệu quả của doanh
nghiệp nhà nước là:
-Do ảnh hưởng của cơ chế kế hoạch hoá tập trung trong điều kiện chiến
tranh kéo dài. Trong cơ chế đó coi kinh tế quốc doanh dựa trên chế độ sở hữu
toàn dân, xem nhẹ quy luật kinh tế khách quan của thị trường nên hạch toán
doanh nghiệp mang tính hỡnh thức, đội ngũ cán bộ lónh đạo quan liêu, nóng
vội chủ quan duy ý chí. Ngay cả trong thời kỳ đổi mới thỡ thành phần kinh tế
này vẫn hoạt động chưa hiệu quả, do chưa đáp ứng được yêu cầu của thị
trường và thực tế, thái độ lao động của doanh nghiệp nhà nước cũn mang tớnh
ỷ lại, nờn năng xuất lao động không cao.
-Do sự yếu kém của đội ngũ công nhân, của cán bộ quản lý và trỡnh độ
công nghệ. Sự yếu kém của lực lượng sản xuất cũn thể hiện ở kết cấu hạ tầng
thấp kém của toàn bộ nền kinh tế cũng như của mỗi doanh nghiệp. Công nghệ
lạc hậu dẫn tới hậu quả tất yếu là sản phẩm chất lượng kém, giá thành sản
phẩm cao không thể cạnh tranh trên thị trường, vỡ thế doanh nghiệp chưa có
tích luỹ nội bộ.
- 9 -

-Trỡnh độ quản lý vĩ mô đối với nền kinh tế và doanh nghiệp cũn nhiều
yếu kộm. Hệ thống chớnh sỏch phỏp luật quản lý chưa hoàn chỉnh đồng bộ
khi cũn chồng chộo mõu thuẫn, hiệu lực thực hiện thấp gõy khú khăn cho
doanh nghiệp . Pháp luật cũn nhiều kẽ hở chồng chộo không ổn định sự kém
linh hoạt của bộ phận quản lý tài chính, kế toán, kiểm toán, thanh tra. Nên nhà
nước không nắm được thực trạng tài chính hiệu quả của doanh nghiệp. Các
doanh nghiệp nhà nước chưa xác định rừ quyền lợi trỏch nhiệm của người lao
động, cho nên người lao động không có trách nhiệm, không quan tâm đến
quản lý sử dụng tài sản doanh nghiệp, tỡnh trạng tham nhũng tiờu cực trong
doanh nghiệp trở nờn phổ biến. Cụ thể:
+ Công nợ của các doanh nghiệp nhà nước lớn, nợ phải thu chiếm
65% , nợ phải trả chiếm 125 % vốn nhà nước trong doanh nghiệp. Trong đó
nợ phải trả cho ngân hàng chiếm 25%.
+ Quy mô của doanh nghiệp nhà nước phần lớn nhỏ bé, số lượng nhiều.
Năm 1996 có 33% doanh nghiệp nhà nước có vốn nhỏ hơn 1 tỷ đồng trong đó
50% có số vốn nhỏ hơn 500 triệu đồng; số doanh nghiệp có vốn từ 1 đến 5 tỷ
đồng chiếm tỷ lệ 30 %. Cũn số doanh nghiệp cú số vốn lớn hơn 10 tỷ đồng
chỉ chiếm 23 % trong số các doanh nghiệp nhà nước đang hoạt động. Nhiều
doanh nghiệp cùng loại hoạt động chồng chéo về ngành nghề kinh doanh, cấp
quản lý trờn cựng 1 địa bàn tạo nên sự cạnh tranh không lành mạnh, nảy sinh
nhiều tiêu cực.
+ Khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp nhà nước rất yếu vỡ chưa
chứng tỏ khả năng cạnh tranh trên thị trường vỡ mang tõm lý trụng chờ ỷ lại
khụng tự xây dựng kế hoạch kinh doanh cho doanh nghiệp. Trên thực tế đó
chứng minh khả năng cạnh tranh và khả năng thành công của doanh nghiệp
phụ thuộc nhiều vào kế hoạch kinh doanh và kế hoạch cạnh tranh của doanh
nghiệp. Việc lựa chọn sản phẩm cho doanh nghiệp là yếu tố quan trọng hàng
- 10 -

đầu. Vỡ doanh thu mà sản phẩm mang lại phải bảo đảm bù đủ chi phí ngoài ra
cũn phải cú lợi nhuận.
+ Tỡnh trạng thiếu vốn là phổ biến: trung bỡnh mỗi doanh nghiệp cú
11,6 tỷ đồng vốn do nhà nước cấp nhưng vốn hoạt động thực tế chỉ bằng 80%
vốn ghi trên sổ sách. Vốn lưu động chỉ cũn 50 % huy động vào sản xuất kinh
doanh. Cũn lại là cụng nợ khú đũi tài sản mất mỏt, kộm phẩm chất, trang thiết
bị lạc hậu.
Vỡ thế việc chuyển đổi doanh nghiệp nhà nước hoạt động kém hiệu quả
gây lóng phớ nguồn lực quốc gia, sang hỡnh thức cụng ty cổ phần hay tư nhân
hoá doanh nghiệp nhà nước là cần thiết để nâng cao hiệu quả cạnh tranh của
doanh nghiệp và nền kinh tế.
1.2. Nội dung và qui trỡnh cổ phần hoỏ doanh nghiệp nhà nước
1.2.1. Nội dung cơ bản của chủ trương cổ phần hoá doanh nghiệp nhà
nước
Chủ trương cổ phần hoá doanh nghiệp nhà nước đó được đề ra từ lâu
nhưng đến nay mới được quan tâm hợp lý, nhà nước đó đề ra nhiều giải pháp
để tạo điều kiện thuận lợi cho quá trỡnh cổ phần hoỏ như nghị định 44/1998/
NĐ-CP, nghị định 64/2002/NĐ-CP, bao gồm một số nội dung cơ bản về cổ
phần hoá như sau:
Về mục tiêu cổ phần hoá doanh nghiệp nhà nước: La nhằm gúp phần
quan trọng nõng cao hiệu quả, sức cạnh tranh của doanh nghiệp; tạo ra loại
hỡnh doanh nghiệp cú nhiều chủ sở hữu trong đó có đông đảo người lao động;
tạo động lực mạnh mẽ và cơ chế quản lý năng động cho doanh nghiệp để sử
dụng có hiệu quả vốn, tài sản của nhà nước và của doanh nghiệp. Huy động
vốn của toàn xó hội, bao gồm: cỏ nhõn, cỏc tổ chức kinh tế, cỏc tổ chức xó
hội trong và ngoài nước để đầu tư đổi mới công nghệ, phát triển doanh
nghiệp. Phát huy vai trũ làm chủ thực sự của người lao động, của các cổ
- 11 -

đông, tăng cường sự giám sát của nhà đầu tư đối với doanh nghiệp; đảm bảo
hài hoà lợi ích của nhà nước, doanh nghiệp, nhà đầu tư và người lao động.
Về đối tượng doanh nghiệp cổ phần hoá: có đủ điều kiện hạch toán độc
lập, không gây khó khăn hay ảnh hưởng xấu đến sản xuất kinh doanh của
doanh nghiệp và các bộ phận cũn lại.
Hỡnh thức cổ phần hoỏ: Giữ nguyờn vốn nhà nước hiện có tại doanh
nghiệp, phát hành cổ phần thu hút thêm vốn đầu tư. Bán một phần vốn nhà
nước hiện có tại doanh nghiệp. Bán toàn bộ vốn nhà nước hiện có tại doanh
nghiệp. Thực hiện các hỡnh thức 2 hoặc 3 kết hợp với phỏt hành cổ phần thu
hỳt thờm vốn.
Phương thức bán cổ phần: Cổ phần được bán công khai tại doanh
nghiệp nhà nước cổ phần hoá, hoặc tại các tổ chức tài chính trung gian theo
cơ cấu cổ phần lần đầu đó được cơ quan có thẩm quyền phê duyệt trong
phương án cổ phần hoá và sẽ được thực hiện theo phương thức bán đấu giá.
Doanh nghiệp nhà nước cổ phần hoá có tỡnh hỡnh tài chớnh phự hợp với điều
kiện niêm yết trên thị trường chứng khoán, thỡ phương án bán cổ phần ra bên
ngoài phải đảm bảo các điều kiện để được niêm yết trên thị trường chứng
khoán, sau khi chuyển thành công ty cổ phần. Tiền thu từ bán cổ phần thuộc
vốn nhà nước tại các doanh nghiệp thành viên của tổng công ty nhà nước
(không phân biệt tổng công ty 90 hay tổng công ty 91) sẽ được chuyển về quỹ
hỗ trợ sắp xếp và cổ phần hoá tổng công ty nhà nước. Tiền thu từ bán phần
vốn nhà nước tại doanh nghiệp nhà nước cổ phần hoá được sử dụng để hỗ trợ
doanh nghiệp thanh toán trợ cấp cho người lao động thôi việc mất việc tại thời
điểm cổ phần hoá hoặc sau khi người lao động chuyển sang làm việc tại công
ty cổ phần trong 5 năm đầu, kể từ khi công ty cổ phần được cấp giấy chứng
nhận đăng ký kinh doanh. Tiền thu từ bỏn phần vốn nhà nước tại doanh
nghiệp nhà nước cổ phần hoá được sử dụng để hỗ trợ doanh nghiệp có khó
- 12 -

khăn về khả năng thanh toán, để xử lý cỏc khoản nợ quỏ hạn, nợ bảo hiểm xó
hội.
Về xác định giá trị doanh nghiệp: Cho phép áp dụng nhiều phương pháp
xác định giá trị doanh nghiệp để cổ phần hoá, đồng thời quy định tổ chức xác
định giá trị doanh nghiệp cổ phần hoá như cơ quan có thẩm quyền quyết định
cổ phần hoá doanh nghiệp sẽ chỉ định người đại diện làm chủ tịch hội đồng,
cơ quan tài chính (cung cấp) cử người đại diện làm chủ tịch hội đồng; hoặc
lựa chọn công ty kiểm toán và tổ chức kinh tế có chức năng định giá. Giá trị
quyền sử đụng đất được tính vào giá trị doanh nghiệp đối với diện tích đất nhà
nước giao cho doanh nghiệp để kinh doanh nhà và hạ tầng; doanh nghiệp nhà
nước cổ phần hoá được hưởng các quyền sử dụng đất theo quy định của luật
đất đai. Xác định lợi thế kinh doanh của doanh nghiệp nhà nước cổ phần hoá
được so với lói suất của trỏi phiếu chớnh phủ kỳ hạn 10 năm ở thời điểm gần
nhất. Cho phép tính giá trị thương hiệu vào giá trị doanh nghiệp, nếu rừ ràng
thỡ được thị trường chấp nhận. Kết quả xác định giá trị doanh nghiệp là cơ sở
xác định mức giá sàn để tổ chức bán cổ phần cho các đối tượng bên ngoài
doanh nghiệp. Toàn bộ giá trị doanh nghiệp nhà nước để cổ phần hoá do bộ
trưởng các bộ, chủ tịch UBND tỉnh thành phố quyết định, trừ trường hợp giá
trị doanh nghiệp thực tế nhỏ hơn so với trên sổ sách kế toán của doanh nghiệp
từ 500 triệu đồng trở lên, thỡ cần phải thoả thuận bằng văn bản của bộ tài
chính.
1.2.2. Qui trỡnh cổ phần hoỏ doanh nghiệp nhà nước
Về quy trỡnh cổ phần hoỏ thỡ nhà nước đó cú hướng dẫn cụ thể trong
nghị định 64/2002/NĐ-CP đồng thời phải tuân thủ theo quy định của pháp
luật hiện hành của nước cộng hoà xó hội chủ nghĩa Việt Nam.
Việc cho phép thành lập công ty cổ phần phải do cơ quan có thẩm
quyền thành lập doanh nghiệp nhà nước đó đồng ý và được sự đồng ý của cơ
quan chủ quản và ban chỉ đạo cổ phần hoá cho phép tiến hành cổ phần hoá.
- 13 -

Sau khi hoàn thành các thủ tục trên thỡ doanh nghiệp cú quyết định cổ phần
hoá sẽ phải tiến hành định giá doanh nghiệp, tiến hành kiểm toán để xác định
tỡnh hỡnh tài chớnh của doanh nghiệp rồi mới làm đơn xin phép thành lập
công ty cổ phần.
Thứ nhất các sáng lập viên phải gửi đơn xin phép thành lập đến uỷ ban
nhân dân tỉnh thành phố trực thuộc trung ương hoặc đơn vị hành chính tương
đương nơi dự định đặt trụ sở chính. Trong đơn thành lập công ty phải kèm
theo phương án kinh doanh ban đầu và dự thảo điều lệ công ty. Sau khi được
chấp nhận thỡ cụng ty phải đăng ký kinh doanh bao gồm giấy phép thành lập,
điều lệ công ty và giấy tờ chứng thực trụ sở giao dịch của công ty. Việc tiến
hành đăng ký kinh doanh phải được tiến hành trong một năm.
Ngoài ra cũn phải đảm bảo một số quy định sau: các sáng lập viên phải
cùng nhau đăng ký mua ớt nhất 20% số cổ phiếu dự tớnh phỏt hành của cụng
ty. Trong trường hợp các sáng lập viên không đăng ký mua tất cả cổ phiếu
của cụng ty thỡ họ phải cụng khai kờu gọi vốn từ những người khác.
Các sáng lập viên phải gửi tất cả số tiền đó gúp của người đăng ký mua
cổ phiếu vào tài khoản phong toả tại một ngõn hàng trong nước kèm theo
danh sách những người đăng ký mua số cổ phiếu và số tiền mỗi người đó gúp.
Số tiền gửi chỉ được lấy ra khi công ty đó được cấp giấy chứng nhận đăng ký
kinh doanh hoặc sau một năm kể từ ngày cấp giấy phép thành lập công ty
không thành lập được
Các sáng lập viên triệu tập đại hội đồng thành lập để thông qua điều lệ
công ty và các thủ tục cần thiết khác.
Công ty cổ phần có thể được uỷ ban nhân dân thành phố trực thuộc
trung ương hoặc đơn vị hành chính tương đương nơi công ty cổ phần đặt trụ
sở chính cho phép phát hành cổ phiếu hoặc trái phiếu. Nếu có đủ tiêu chuẩn
và điều kiện phát hành cổ phiếu.
- 14 -

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét