Thứ Bảy, 15 tháng 2, 2014

Tài liệu Luận văn: " Những giải pháp chủ yếu huy động vốn đổi mới thiết bị công nghệ tại Công ty cổ phần dệt 10/10 " pdf

Luận văn tốt nghiệp
1.1.2 Vốn cố định
Vốn cố định là số vốn đầu tư ứng trước để hình thành nên tài sản cố định
của doanh nghiệp. Chính vì vậy mà quy mô vốn cố định quyết định đến tính
đồng bộ và trình độ kỹ thuật của tài sản cố định, song chính đặc điểm kinh tế
của tài sản cố định lại chi phối quyết định tới đặc điểm tuần hoàn và chu
chuyển của vốn cố định. Từ mối quan hệ này có thể thấy đặc điểm và những
nét đặc thù về sự vận động của vốn cố định trong quá trình sản xuất kinh
doanh đó là:
+Vốn cố định tham gia vào nhiều chu kỳ sản xuất và chỉ hoàn thành một
vòng tuần hoàn vốn sau nhiều chu kỳ kinh doanh khi tài sản cố định hết thời
gian sử dụng. Có đặc điểm này là do tài sản cố định được sử dụng lâu dài và
phát huy tác dụng trong nhiều chu kỳ sản xuất.
+ Trong quá trình tham gia vào hoạt động kinh doanh vốn cố định được luân
chuyển dần từng phần và được thu hồi dần từng phần. Khi tham gia vào quá
trình sản xuất tài sản cố định không bị thay đổi hình thái vật chất ban đầu
nhưng tính năng, công dụng của nó bị giảm dần, kéo theo đó là giá trị của tài
sản cũng giảm đi. Có thể thấy vốn cố định được tách thành 2 bộ phận:
*Bộ phận thứ nhất: Tương ứng với phần giá trị hao mòn của tài sản cố định
được luân chuyển và cấu thành chi phí sản xuất sản phẩm dưới hình thức chi
phí khấu hao và được tích luỹ lại tại quỹ khấu hao. Sau khi sản phẩm được
tiêu thụ, quỹ khấu hao sẽ được sử dụng để tái đầu tư tài sản cố định nhằm
duy trì năng lực sản xuất của doanh nghiệp.
*Bộ phận còn lại của vốn cố định chính là giá trị còn lại của tài sản cố định.
Sau mỗi chu kỳ sản xuất, phần vốn được luân chuyển vào giá trị sản phẩm
dần tăng lên song phần vốn đầu tư ban đầu vào tài sản cố định lại dần giảm
xuống tương ứng với mức giảm giá trị sử dụng của tài sản cố định. Kết thúc
quá trình vận động đó cũng đồng thời tài sản cố định hết thời gian sử dụng,
giá trị của nó được chuyển dịch hết vào giá trị sản phẩm đã sản xuất và lúc
này vốn cố định mới hoàn thành một vòng luân chuyển.
Trong các doanh nghiệp, vốn cố định giữ vai trò đặc biệt quan trọng bởi nó
là một bộ phận của vốn đầu tư nói riêng và vốn sản xuất kinh doanh nói
Lê Thị Khánh Phương 4 Lớp K39 11.06
Luận văn tốt nghiệp
Trong công tác quản lý vốn cố định, một yêu cầu đặt ra đối với các doanh
nghiệp là phải bảo toàn vốn cố định. Bảo toàn vốn cố định phải xem xét
trên cả 2 mặt hiện vật và giá trị
+ Bảo toàn vốn cố định về mặt hiện vật không phải chỉ là giữ nguyên hình
thái vật chất và đặc tính sử dụng ban đầu của tài sản cố định mà quan trọng
hơn là duy trì thường xuyên năng lực sản xuất ban đầu của nó
+ Bảo toàn vốn cố định về mặt giá trị là phải duy trì sức mua của vốn cố
định ở thời điểm hiện tại so với thời điểm bỏ vốn đầu tư ban đầu bất kể sự
biến động của giá cả, sự thay đổi của tỷ giá hối đoái, ảnh hưởng của tiến bộ
khoa học kỹ thuật…
Tóm lại, vốn cố định là một bộ phận quan trọng, quyết định đến quy mô,
trình độ trang bị kỹ thuật của tài sản cố định trong doanh nghiệp. Việc bảo
toàn vốn cố định, thường xuyên đổi mới tài sản cố định cho phù hợp với
tình hình thực tế nhằm đáp ứng những yêu cầu khắt khe của thị trường là vấn
đề doanh nghiệp phải đặc biệt quan tâm nếu không muốn mình bị tụt hậu và
thất bại trong kinh doanh.
Hao mòn tài sản cố định
1.1.1
Trong quá trình sử dụng, do chịu ảnh hưởng của nhiều nguyên nhân khác
nhau, tài sản cố định của doanh nghiệp bị hao mòn dưới 2 hình thức: hao
mòn hữu hình và hao mòn vô hình
Hao mòn hữu hình tài sản cố định là sự hao mòn về vật chất và giá trị
của tài sản cố định trong quá trình sử dụng. Về mặt vật chất đó là sự hao
mòn có thể nhận thấy được từ sự thay đổi trạng thái vật lý ban đầu ở các bộ
phận, chi tiết tài sản cố định dưới sự tác động của ma sát, trọng tải, nhiệt
độ… sự giảm sút về chất lượng, tính năng kỹ thuật ban đầu,… và cuối cùng
tài sản cố định không còn sử dụng được nữa. Về mặt giá trị đó là sự giảm
dần giá trị của tài sản cố định cùng với quá trình chuyển dịch dần từng phần
giá trị hao mòn vào giá trị sản phẩm sản xuất ra. Đối với các tài sản cố định
vô hình, hao mòn hữu hình chỉ thể hiện ở sự hao mòn về giá trị
Lê Thị Khánh Phương 5 Lớp K39 11.06
Luận văn tốt nghiệp
Hao mòn vô hình tài sản cố định là sự giảm thuần tuý về mặt giá trị của
tài sản cố định do sự tiến bộ của khoa học công nghệ hoặc do sự chấm dứt
chu kỳ sống của sản phẩm làm cho những tài sản cố định tạo ra những sản
phẩm đó bị mất giá. Hao mòn vô hình xảy ra đối với cả tài sản cố định hữu
hình và tài sản cố định vô hình
Như vậy, trong quá trình sử dụng, tài sản cố định bị hao mòn hữu hình và
hao mòn vô hình. Bộ phận giá trị hao mòn đó được chuyển dịch dần vào giá
thành sản phẩm gọi là khấu hao tài sản cố định. Giá thành sản phẩm được
biểu hiện dưới hình thức tiền tệ gọi là tiền khấu hao. Sau khi sản phẩm sản
xuất ra được tiêu thụ số tiền khấu hao sẽ được tích luỹ lại hình thành quỹ
khấu hao tài sản cố định. Việc trích lập quỹ khấu hao có ý nghĩa đặc biệt
quan trọng đối với doanh nghiệp bởi nó là một trong những nguồn vốn cơ
bản để tái sản xuất giản đơn và tái sản xuất mở rộng tài sản cố định. Tuy
nhiên trong điều kiện kinh tế thị trường hiện nay, máy móc, thiết bị, dây
chuyền công nghệ là một bộ phận tài sản cố định quan trọng và là nhân tố
trước tiên, chủ yếu quyết định đến sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp.
Vì vậy vấn đề đổi mới máy móc thiết bị công nghệ là một vấn đề hết sức cần
thiết và rất đáng quan tâm.
Sự cần thiết phải đổi mới máy móc thiết bị công nghệ và các nhân tố
ảnh hưởng tới quyết định đầu tư đổi mới máy móc thiết bị công nghệ
tại doanh nghiệp.
1.2
Sự cần thiết phải đổi mới máy móc thiết bị công nghệ
1.2.1
1.2.1.1 Thực trạng máy móc thiết bị hiện nay
Bước sang nền kinh tế thị trường, buộc các doanh nghiệp phải tự hoàn
thiện mình. Sự chuyển đổi cơ chế quản lý tập trung quan liêu bao cấp sang
cơ chế thị trường cùng với xu thế hội nhập nền kinh tế thế giới và khu vực
đang diễn ra mạnh mẽ, cơ chế cấp phát, giao nộp không còn tồn tại buộc mỗi
doanh nghiệp phải chủ động, nhanh nhạy nhận biết tình hình, nắm bắt thời
cơ và tự đứng vững bằng chính “đôi chân” của mình. Sự mở cửa, giao lưu,
hội nhập kinh tế đã mở ra cho các doanh nghiệp những cơ hội song cũng đặt
ra không ít những thách thức mà một trong số đó là sự cạnh tranh ngày càng
gay gắt. Để tồn tại thì bản thân mỗi doanh nghiệp phải hoà mình vào thời
cuộc và tự trang bị cho mình những “vũ khí” cạnh tranh sắc bén. Khoa học
Lê Thị Khánh Phương 6 Lớp K39 11.06
Luận văn tốt nghiệp
+ Trang thiết bị hầu hết đã cũ nát, chắp vá không thể sản xuất được những
sản phẩm yêu cầu độ chính xác cao, không thể đáp ứng được thị hiếu ngày
càng cao của thị trường trong và ngoài nước. Có đến 70% thiết bị máy móc
thuộc thế hệ những năm 60- 70, trong đó có hơn 60% đã hết khấu hao, gần
50% máy móc cũ được tân trang lại để dùng, việc thay thế chỉ đơn lẻ từng bộ
phận, chắp vá thiếu đồng bộ. Tình trạng máy móc có tuổi thọ trung bình trên
20 năm chiếm khoảng 38% và dưới 5 năm chỉ chiếm có 27%.
+ Trước đây chúng ta đa số là nhập máy móc thiết bị từ nhiều nguồn khác
nhau: 25% từ Liên Xô, 21% từ các nước Đông Âu, 20% từ các nước
ASEAN,…nên tính đồng bộ kém, khi sử dụng năng lực sản xuất chỉ đạt hơn
50% công suất.
+ Do đầu tư thiếu đồng bộ nên doanh nghiệp gặp rất nhiều khó khăn về phụ
tùng thay thế, suất tiêu hao vật liệu, nhiên liệu trên một đơn vị sản phẩm còn
quá lớn, nhiều tiêu chuẩn định mức đã lỗi thời không còn phù hợp nhưng
chưa sửa đổi. Máy móc thiết bị cũ làm cho số giờ máy chết cao…Những
điều này chính là nguyên nhân làm cho giá thành sản phẩm cao, chất lượng
thấp và không đủ sức cạnh tranh cả trong thị trường nội địa.
Xuất phát từ thực trạng máy móc thiết bị trên đòi hỏi tất yếu các doanh
nghiệp phải đổi mới máy móc thiết bị mới có thể đáp ứng được nhu cầu thị
trường, chiến thắng trong cạnh tranh.
1.2.1.2 Lợi thế của việc đổi mới máy móc thiết bị
Trong nền kinh tế thị trường, các doanh nghiệp luôn đặt mục tiêu lợi
nhuận lên hàng đầu và đó cũng là yếu tố sống còn của doanh nghiệp. Để đạt
được lợi nhuận tối đa thì trước hết doanh nghiệp phải tự tìm được chỗ đứng
cho mình bằng chính con đường là chiến thắng trong cạnh tranh. Với điều
kiện hiện nay khi mà khoa học công nghệ phát triển như vũ bão thì chiến
thắng nằm trong tay người nắm vững khoa học kỹ thuật công nghệ và biết
vận dụng nó có hiệu quả cho mục đích của mình. Không phải ngẫu nhiên mà
hiện nay, đâu đâu cũng kêu gọi đổi mới. Đây chính là dấu hiệu cho thấy các
doanh nghiệp đã nhận thức được tầm quan trọng của việc ứng dụng khoa học
Lê Thị Khánh Phương 7 Lớp K39 11.06
Luận văn tốt nghiệp
Có thể thấy rằng đổi mới máy móc thiết bị cũng đồng nghĩa với việc tăng
năng lực sản xuất của doanh nghiệp cả về số lượng và chất lượng. Với một
dàn máy móc thiết bị hiện đại đồng bộ, doanh nghiệp sẽ tiết kiệm được chi
phí nguyên vật liệu cho một đơn vị sản phẩm, ít tiêu hao nhiên liệu hơn và
lượng phế phẩm cũng ít đi. Các khoản chi phí sửa chữa, bảo dưỡng máy móc
thiết bị giảm đồng thời cũng giảm bớt lao động thủ công làm cho chi phí
nhân công giảm. Từ đó góp phần làm cho chi phí sản xuất giảm xuống, tạo
điều kiện cho doanh nghiệp có khả năng hạ giá bán, mở rộng được thị phần
ra nhiều tầng lớp dân cư khác nhau.
Bên cạnh việc tiết kiệm được chi phí, với máy móc thiết bị hiện đại sẽ
làm cho năng suất tăng lên cùng với đó là chất lượng sản phẩm sản xuất ra
cũng tăng lên, có khả năng đáp ứng được những đòi hỏi ngày càng khắt khe
của thị trường cả về chất lượng sản phẩm cũng như mẫu mã, chủng loại.
Việc nâng cao chất lượng sản phẩm kết hợp với hạ giá bán sẽ làm tăng sức
cạnh tranh của doanh nghiệp trên thị trường, điều này càng có ý nghĩa hơn
trong bối cảnh nền kinh tế Việt Nam đang có những thay đổi theo chiều
hướng hội nhập, nhất là khi chúng ta đang thực thi tiến trình hội nhập AFTA
và phấn đấu đến cuối năm 2005 chúng ta sẽ gia nhập vào tổ chức thương mại
thế giới WTO. Tóm lại muốn đạt được mục tiêu lợi nhuận, nâng cao vịi thế
của mình, mỗi doanh nghiệp cần phải tăng năng lực sản xuất, nâng cao chất
lượng sản phẩm , tăng khả năng cạnh tranh. Điều đó cũng đồng nghĩa với sự
cần thiết phải đầu tư đổi mới máy móc thiết bị công nghệ đối với mỗi doanh
nghiệp.
1.2.2. Các yêu cầu cơ bản khi tiến hành đầu tư đổi mới thiết bị công
nghệ tại các doanh nghiệp hiện nay.
Đổi mới thiết bị công nghệ là điều rất cần thiết với mỗi doanh nghiệp,
song làm thế nào để việc đổi mới thật sự có hiệu quả và phù hợp với tình
hình thực tế và khả năng của doanh nghiệp lại hoàn toàn không đơn giản, nó
phải đảm bảo các yêu cầu sau:
+ Đổi mới phải bắt kịp tiến bộ khoa học công nghệ: Mục đích của
việc đổi mới thiết bị công nghệ trong doanh nghiệp là thay thế, khắc phục
Lê Thị Khánh Phương 8 Lớp K39 11.06
Luận văn tốt nghiệp
+ Đổi mới phải đồng bộ, có trọng điểm: Tính đồng bộ trong đổi mới
là rất quan trọng bởi một số sản phẩm tạo ra nếu muốn được thị trường chấp
nhận thì cần phải đáp ứng được nhiều mặt như: chất lượng, kiểu dáng, mẫu
mã…nếu chỉ đổi mới một cách “khập khiễng”, không được tiến hành một
cách đồng bộ, chẳng hạn chỉ thay đổi chất lượng sản phẩm mà không thay
đổi kiểu dáng, mẫu mã thì người tiêu dùng sẽ khó nhận ra những ưu điểm
mới của sản phẩm. Từ đó sẽ làm giảm hiệu quả của công tác đổi mới máy
móc thiết bị. Tuy nhiên, để đổi mới đồng bộ đòi hỏi doanh nghiệp phải có
một lượng vốn lớn, đây là một trở ngại lớn đối với nhiều doanh nghiệp. Do
đó, nếu thiếu vốn để đầu tư, thì doanh nghiệp nên thực hiện giải pháp tình
thế là đổi mới có trọng điểm. Tính trọng điểm của hoạt động đầu tư thể hiện
ở chỗ: Doanh nghiệp chỉ đổi mới với những công nghệ chủ chốt mang tính
sống còn đối với hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, tránh việc
đầu tư dàn trải, lan tràn trong khi doanh nghiệp đang thiếu vốn.
+ Đổi mới phải đón trước được yêu cầu và thi hiếu của thị trường:
Những đòi hỏi của thị trường về một loại sản phẩm nào đó có thể thay đổi rất
nhanh. Nếu doanh nghiệp không điều tra, nghiên cứu kỹ trước khi thực hiên
hoạt động đầu tư đổi mới chắc chắn sẽ làm giảm hiệu quả của hoạt động đầu
tư thậm chí công tác đổi mới sẽ hoàn toàn vô nghĩa.
1.2.3. Các nhân tố ảnh hưởng đến quyết định đầu tư đổi mới.
Việc đầu tư đổi mới máy móc thiết bị là đòi hỏi khách quan nhưng
nếu xét trên giác độ quản lý tài chính thì hoạt động đầu tư này chính là các
quyết định đầu tư dài hạn, đầu tư không chỉ cho hiện tại mà phải đón đầu
được những tiến bộ khoa học kỹ thuật trong tương lai và cần có một nguồn
vốn lớn. Vì vậy, để đi đến một quyết định đầu tư đòi hỏi doanh nghiệp phải
Lê Thị Khánh Phương 9 Lớp K39 11.06
Luận văn tốt nghiệp
Một là: Tính hiệu quả của dự án đầu tư: Hoạt động đầu tư dài hạn
luôn chứa đựng trong nó rất nhiều rủi ro. Trước khi quyết định nên hay
không nên thực hiện một dư án đầu tư dài hạn thì mỗi doanh nghiệp phải xác
định được độ chắc chắn của dự án đầu tư, phải dự toán được sự biến động
trong tương lai về chi phí đầu tư bỏ ra, thu nhập nhận được từ dự án đầu tư,
lãi tiền vay và thuế, khả năng tiêu thụ sản phẩm…để thấy được tính khả thi
của dự án. Vì vậy, phân tích tính khả thi của dự án đầu tư là công việc phải
được tiến hành rất kỹ lưỡng, tỷ mỉ, khoa học trước khi thực hiện dự án đầu
tư.
Hai là: Sự tiến bộ của khoa học và công nghệ: Khoa học và công
nghệ luôn luôn thay đổi, nó có thể là thời cơ đối với những doanh nghiệp
biết đón trước và nắm lấy nó nhưng nó cũng có thể là nguy cơ đe dọa đối với
các doanh nghiệp nếu sự tính toán, dự báo của doanh nghiệp thiếu chính xác.
Các doanh nghiểp trước khi thực hiện dự án đầu tư cần phải tính đến những
tiến bộ trong tương lai của khoa học công nghệ đối với những thiết bị mình
sẽ đầu tư, từ đó có thể xác định chính xác trọng tâm cũng như cách thức đầu
tư đổi mới trang thiết bị. Trong đầu tư đôi khi đòi hỏi doanh nghiệp phải
dám chấp nhận sự mạo hiểm để có thể tung ra thị trường những sản phẩm
mới có hàm lượng công nghệ cao bằng cách tiếp cận kịp thời với sự tiến bộ
của khoa học công nghệ để đổi mới trang thiết bị. Tuy nhiên sự mạo hiểm
này phải được cân nhắc kỹ lưỡng và có nhiều khả năng thành công.
Ba là: Thị trường và sự cạnh tranh: Một dự án đầu tư chỉ có thể được
chấp nhận khi nó có khả năng tạo ra lợi thế cho doanh nghiệp trong cạnh
tranh, có khả năng sản xuất ra những sản phẩm đáp ứng được những đòi hỏi
ngày càng phong phú và khắt khe của thị trường. Vì vậy, khi đưa ra một
quyết định đầu tư đòi hỏi doanh nghiệp phải căn cứ vào tình hình hiện tại
của bản thân doanh nghiệp, tình hình cạnh tranh giữa các doanh nghiệp cũng
như dự đoán diễn biến tình hình thị trường trong tương lai để lựa chọn
phương thức đầu tư thích hợp.
Bốn là: Khả năng tài chính của doanh nghiệp: Doanh nghiệp không
thể tiến hành các dự án đầu tư khi nó nằm ngoài khả năng tài chính của
Lê Thị Khánh Phương 10 Lớp K39 11.06
Luận văn tốt nghiệp
Nhu cầu về vốn cho hoạt động đầu tư là rất lớn, nó phát sinh liên tục.
Tình trạng chung tại các doanh nghiệp hiện nay là nguồn vốn tự có rất hạn
hẹp và thường không đáp ứng đủ nhu cầu sử dụng. Vì vậy, để có đủ vốn thực
hiện hoạt động đầu tư thì doanh nghiệp phải huy động thêm vốn từ các
nguồn khác là không thể tránh khỏi. Tuy nhiên, khi huy động các nguồn vốn
doanh nghiệp cần lưu ý một số vấn đề sau:
* Việc đa dạng hóa các hình thức huy động vốn là cần thiết nhưng
phải đảm bảo tôn trọng các nguyên tắc tài chính nhưa: Không huy động vốn
ngắn hạn để đầu tư dài hạn, lượng vốn vay vượt quá xa so với lượng vốn tự
có dẫn tới hệ số nợ lên cao và có thể mất khả năng thanh toán.
* Chi phí sử dụng vốn: Doanh nghiệp khi huy động vốn cần so sánh
giữa chi phí sử dụng vốn và kết quả thu được từ việc sử dụng vốn vay đó.
Mặt khác, thời gian vay phải phù hợp với thời gian khấu hao, với chu kỳ
luân chuyển của TSCĐ được hình thành từ vốn vay.
Ngoài ra còn có một số nhân tố khác cũng ảnh hưởng tới quyết định
đầu tư đổi mới máy móc, thiết bị tại doanh nghiệp như: các chính sách phát
triển kinh tế xã hội của Nhà nước, tính rủi ro của hoạt động đầu tư….
Như vậy, để việc huy động vốn đổi mới máy móc, thiết bị công nghệ
đúng hướng, mang lại hiệu quả kinh tế cao thì trước khi thực hiện các dự án
đầu tư doanh nghiệp cần nghiên cứu kỹ các vấn đề đã đựơc đề cập ở trên. Đó
chính là cơ sở quan trọng để đưa ra những quyết định đầu tư đúng hướng
đảm bảo sự thành công của hoạt động đầu tư.

Lê Thị Khánh Phương 11 Lớp K39 11.06
Luận văn tốt nghiệp
1.3 Các nguồn tài trợ cho việc đầu tư đổi mới máy móc thiết bị trong
các doanh nghiệp hiện nay
Một nền kinh tế phát triển ổn định và mạnh mẽ luôn đồng hành với nó là
sự phát triển ổn định và hoạt động hiệu quả của các doanh nghiệp thuộc
mọi thành phần kinh tế. Tuy nhiên, thực trạng kinh tế Việt Nam những năm
vừa qua cho thấy các doanh nghiệp luôn trong tình trạng “đói” vốn đặc biệt
là các doanh nghiệp có quy mô vừa và nhỏ chiếm đại bộ phận các doanh
nghiệp Việt Nam. Vậy đâu là nguyên nhân của tình trạng trên?
Trước hết có thể thấy các doanh nghiệp có quy mô vừa và nhỏ khó có
điều kiện để tiếp cận với nguồn tín dụng ngân hàng với chi phí thấp bởi do
có quy mô nhỏ nên khi cần vay vốn lại thiếu tài sản đảm bảo. Mà theo nghị
định 178/1999/NĐ- CP quy định đối với khách hàng vay không có đảm bảo
bằng tài sản thì ngoài có phương án khả thi còn phải có kết quả kinh doanh
lãi trong 2 năm liền kề với thời điểm xem xét cho vay. Quy định như vậy rất
khó khăn cho các doanh nghiệp bởi sự biến động thị trường- giá car có thể
tạo cho doanh nghiệp lỗ tạm thời.
Các doanh nghiệp nhỏ và vừa đã vậy, các doanh nghiệp Nhà nước cũng
thường gặp khó khăn về vốn do nguồn vốn ngân sách Nhà nước cấp còn rất
hạn hẹp so với nhu cầu đầu tư của doanh nghiệp. Mặc dù những năm qua thu
ngân sách Nhà nước không ngừng tăng nhưng kéo theo đó là các khoản chi
ngân sách Nhà nước cũng tăng, thậm chi còn rơi vào tình trạng bội chi ngân
sách Nhà nước. Chính vì vậy mà khi có nhu cầu vốn cho đổi mới tài sản thì
các doanh nghiệp Nhà nước cũng gặp không ít khó khăn.
Ngoài ra thực tế cũng cho thấy tuy đã chuyển đổi từ nền kinh tế kế hoạch
hoá tập trung sang nền kinh tế thị trường nhưng cơ chế quản lý kinh tế cũ
còn ảnh hưởng khá lớn đến các doanh nghiệp, một số doanh nghiệp đặc biệt
là các doanh nghiệp Nhà nước còn có sức ỳ khá lớn, còn có tâm lý ỷ lại vào
Nhà nước, thiếu sự tìm tòi sáng tạo trong công tác quản lý và điều hành hoạt
động sản xuất kinh doanh. Các doanh nghiệp còn “rụt rè”, không dám mạo
hiểm, chấp nhận đương đầu với rủi ro để huy động vốn từ bên ngoài.
Ngoài ra còn có nhiều lý do khác dẫn tới hiện tượng thiếu vốn tại các
doanh nghiệp như cơ chế vay vốn tín dụng còn khá cứng nhắc, nguyên tắc,
thị trường vốn (thị trường tập trung) tại Việt Nam còn chưa phát triển hoàn
Lê Thị Khánh Phương 12 Lớp K39 11.06
Luận văn tốt nghiệp
Trong quá trình hoạt động kinh doanh, nhu cầu vốn cho đổi mới máy
móc thiết bị công nghệ được đặt ra như một yêu cầu cấp bách trước sức ép
của thị trường, cạnh tranh…Để thuận tiện cho việc huy động quản lý và sử
dụng vốn, các nguồn có thể tài trợ cho viêc đầu tư đổi mới máy móc thiết bị
công nghệ của doanh nghiệp có thể được chia thành nguồn vốn bên trong và
nguồn vốn bên ngoài.
1.3.1 Nguồn vốn bên trong
1.3.1.1 Quỹ khấu hao cơ bản
Quỹ khấu hao được hình thành trên cơ sở số tiền trích khấu hao tài sản cố
định được tích luỹ lại. Quỹ khấu hao lớn dần lên cùng với sự giảm dần về
mặt giá trị và giá trị sử dụng của tài sản cố định trong quá trình hoạt động.
Mục đích nguyên thuỷ của việc trích lập quỹ khấu hao là nhằm tái sản xuất
giản đơn và tái sản xuất mở rộng tài sản cố định. Trước đây số tiền khấu hao
được giữ lại tại các doanh nghiệp Nhà nước rất nhỏ bé bởi doanh nghiệp Nhà
nước không có quyền sử dụng số tiền khấu hao tài sản cố định có nguồn gốc
từ ngân sách Nhà nước. Tuy nhiên, gần 10 năm trở lại đây, Nhà nước đã tạo
điều kiện thuận lợi cho việc đầu tư đổi mới máy móc thiết bị cho các doanh
nghiệp Nhà nước bằng cách giao toàn bộ số tiền khấu hao cho doanh nghiệp.
Đây là một thay đổi hoàn toàn phù hợp đặc biệt trong điều kiện hiện nay việc
đổi mới máy móc thiết bị có thể coi là một trong những giải pháp quan trọng
để các doanh nghiệp có thể đứng vững và khẳng định vị thế của mình trên thị
trường.
1.3.1.2 Lợi nhuận để lại để tái đầu tư
Lợi nhuận là khoản chênh lệch giữa thu nhập và chi phí mà doanh nghiệp
đã bỏ ra trong một thời kỳ nhất định. Sau khi đã hoàn thành nghĩa vụ nộp
thuế, chuyển lỗ theo quy định của Luật thuế thu nhập doanh nghiệp thì
doanh nghiệp tự quyết định việc trích lập các quỹ theo mục đích của mình.
Riêng đối với doanh nghiệp Nhà nước theo quy định tại điểm 8 Điều 17 Luật
Doanh nghiệp Nhà nước năm 2003, sau khi trích lập quỹ dự phòng tài chính,
phần lợi nhuận phân chia theo nguồn vốn Nhà nước đầu tư được dùng để tái
đầu tư. Như vậy cố thể thấy nguồn lợi nhuận để lại tái đầu tư đổi mới máy
Lê Thị Khánh Phương 13 Lớp K39 11.06

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét