Thứ Năm, 13 tháng 2, 2014

Tổ chức hạch toán kế toán quá trình tiêu thụ sản phẩm, hàng hoá tại Công ty thương mại và sản xuất vật tư thiết bị giao thông vận tải

+ Khi ngời mua có quyền huỷ bỏ việc mua hàng vì một lý do nào đó đợc nêu trong
hợp đồng mua bán và doanh nghiệp cha chắc chắn về khả năng hàng bán có bị trả
lại hay không.
Nếu doanh nghiệp chỉ còn phải chịu một phần nhỏ rủi ro gắn liền với quyền sở
hữu hàng hoá thì việc bán hàng đợc xác định và doanh thu đợc ghi nhận. Ví dụ nh
doanh nghiệp còn nắm giữ giấy tờ về quyền sở hữu hàng hoá chỉ để đảm bảo sẽ nhận
đợc đủ các khoản thanh toán.
Doanh thu bán hàng đợc ghi nhận chỉ khi đảm bảo là doanh nghiệp nhận đợc lợi
ích kinh tế từ giao dịch. Trờng hợp lợi ích kinh tế từ giao dịch bán hàng còn phụ
thuộc yếu tố không chắc chắn thì chỉ ghi nhận doanh thu khi yếu tố không chắc chắn
này đã xử lý xong (ví dụ, khi doanh nghiệp không chắc chắn là Chính phủ nớc sở tại
có chấp nhận chuyển tiền bán hàng ở nớc ngoài về hay không). Nếu doanh thu đã đợc
ghi nhận trong trờng hợp cha thu đợc tiền thì khi xác định khoản tiền nợ phải thu này
là không thu đợc thì phải hạch toán vào chi phí sản xuất, kinh doanh trong kỳ mà
không đợc ghi giảm doanh thu. Khi xác định khoản phải thu là không chắc chắn thu
đợc (nợ phải thu khó đòi) thì phải lập dự phòng nợ phải thu khó đòi mà không ghi
giảm doanh thu. Các khoản nợ phải thu khó đòi khi xác định là thực sự không đòi đợc
thì đợc bù đắp bằng nguồn dự phòng nợ phải thu khó đòi.
Doanh thu thuần : là số chênh lệch giữa doanh thu bán hàng với các khoản giảm
giá; chiết khấu bán hàng, doanh thu của số hàng bán bị trả lại; thuế giá trị gia tăng
đầu ra; thuế tiêu thụ đặc biệt; thuế xuất khẩu.
Chiết khấu bán hàng : là số tiền tính trên tổng số doanh thu trả cho khách hàng.
Chiết khấu bán hàng gồm :
Chiết khấu thanh toán : là khoản tiền ngời bán giảm trừ cho ngời mua, do ngời
mua thanh toán tiền mua hàng trớc thời hạn theo hợp đồng.
5
Chiết khấu thơng mại : Là khoản doanh nghiệp bán giảm giá niêm yết cho khách
hàng mua hàng .Hình thức chiết khấu này gồm có 2 loại :
+Bớt giá: Là số tiền giảm trừ cho ngời mua do ngời mua mua với khối lợng lớn tính
trên giá bán thông thờng.
+Hồi khấu : Là số tiền giảm trừ cho ngời mua tính trên số lần các nghiệp vụ mua
hàng của một khách hàng trong một thời gian nhất định.
Giảm giá hàng bán : Là khoản giảm trừ cho ngời mua do hàng hoá kém phẩm
chất, sai quy cách hoặc lạc hậu thị hiếu, giao hàng không đúng thời gian địa điểm
trong hợp đồng.
Hàng bán bị trả lại : Là giá trị khối lợng hàng bán đã xác định là tiêu thụ bị
khách hàng trả lại và từ chối thanh toán do không tôn trọng hợp đồng kinh tế nh
đã ký kết.
Lãi gộp : là số chênh lệch giữa doanh thu thuần với giá vốn hàng bán.
Kết quả tiêu thụ sản phẩm, hàng hoá, dịch vụ : là số chênh lệch giữa doanh thu
thuần với trị giá vốn hàng bán, chi phí bán hàng và chi phí quản lý doanh nghiệp.
2. Yêu cầu quản lý quá trình tiêu thụ sản phẩm, hàng hoá.
2.1 Vị trí, vai trò của quá trình tiêu thụ sản phẩm, hàng hoá.
Tiêu thụ là giai đoạn cuối cùng của quá trình kinh doanh; là chiếc cầu trung
gian nối ngời bán với ngời tiêu dùng ( nối cung với cầu). Thông qua tiêu thụ giá trị và
giá trị sử dụng của hàng hoá đợc thực hiện; thông tin phản hồi từ phía thị trờng đợc
ghi nhận. Chính vì vậy quá trình tiêu thụ giữ một vị trí vô cùng quan trọng trong nền
kinh tế và sự quan trọng ấy đợc biểu hiện qua vai trò của nó trong nền kinh tế nh sau :
Về phía xã hội, tiêu thụ sản phẩm hàng hoá là một trong những khâu quan
trọng của tái sản xuất xã hội. Tiêu thụ sản phẩm, hàng hoá có tác dụng nhiều mặt tới
tiêu dùng xã hội. Tiêu thụ sản phẩm hàng hoá mà đa dạng, phong phú, đầy đủ, kịp
6
thời thì càng thoả mãn đợc nhu cầu tiêu dùng của xã hội và ngợc lại nhu cầu tiêu
dùng của xã hội càng tăng lại càng thúc đẩy sản xuất phát triển. Nh vậy, thông qua
thị trờng, tiêu thụ góp phần điều hoà sự cân bằng giữa sản xuất và tiêu dùng, giữa
hàng hoá và tiền tệ trong lu thông, giữa nhu cầu và khả năng thanh toán tạo sự thích
ứng tối đa giữa cung và cầu trong lĩnh vực tiêu dùng. Tiêu thụ là điều kiện để đảm
bảo sự phát triển cân đối trong từng ngành, từng vung cũng nh toàn bộ nền kinh tế
quốc dân.
Về phía doanh nghiệp, hoạt động tiêu thụ là tấm gơng phản chiếu tình hình sản
xuất kinh doanh lỗ hay lãi; là thớc đo để đánh giá chất lợng kinh doanh của doanh
nghiệp.Tiêu thụ sản phẩm, hàng hoá là cơ sở hình thành nên doanh thu và lợi nhuận
tạo ra thu nhập để bù đắp chi phí bỏ ra nhằm bảo tồn và phát triển vốn kinh doanh.
Thông qua tiêu thụ doanh nghiệp nắm đợc nhu cầu, thị hiếu của ngời tiêu dùng từ đó
có chính sách đáp ứng phù hợp để đẩy mạnh doanh số bán ra, nâng cao doanh thu,
mở rộng thị trờng nhằm đạt đến mục tiêu cuối cùng là tối đa hoá lợi nhuận.
Ngoài ra kết quả tiêu thụ sản phẩm, hàng hoá là cơ sở đánh giá hiệu quả cuối
cùng của hoạt động kinh doanh trong một thời kỳ nhất định đối với mỗi doanh
nghiệp. Trên cơ sở đó xác định phần nghĩa vụ phải thực hiện đối với Nhà nớc, giải
quyết hài hoà mối quan hệ giữa lợi ích kinh tế Nhà nớc với tập thể cá nhân ngời lao
động. Kết quả tiêu thụ là nguồn số liệu quan trọng cho các bên quan tâm đầu t hoặc
cho doanh nghiệp vay vốn.
Nh vậy, tiêu thụ sản phẩm, hàng hoá có vai trò rất quan trọng trong việc sử
dụng và phân bổ nguồn lực có hiệu quả đối với toàn bộ nền kinh tế quốc dân nối
chung và đối với mỗi doanh nghiệp nói riêng. Nhất là tronng điều kiện hiện nay tiêu
thụ sản phẩm, hàng hoá mạnh khẳng định khả năng kinh doanh của mỗi doanh
nghiệp trên thơng trờng; tạo uy tín và sự đảm bảo thành công về lâu dài.
2.2. Yêu cầu quản lý quá trình tiêu thụ sản phẩm, hàng hoá.
7
Do quá trình tiêu thụ sản phẩm, hàng hoá có vai trò và vị trí quan trọng nh trên
đã trình bầy nên công tác quản lý quá trình tiêu thụ cần phải đảm bảo các yêu cầu sau
:
1) Nắm chắc sự vân động của từng loại sản phẩm hàng hoá trong quá trình
nhập, xuất và tồn kho theo các chỉ tiêu về số lợng, chất lợng và giá trị.
2) Theo dõi chặt chẽ các phơng thức bán hàng, từng thể thức thanh toán, từng
loại hàng hoá tiêu thụ và từng đối tợng khách hàng.
3) Tính toán và xác định đúng đắn kịp thời kết quả tiêu thụ của từng loại sản
phẩm hàng hoá.
3. ý nghĩa và nhiệm vụ hạch toán quá trình tiêu thụ sản
phẩm, hàng hoá.
Tiêu thụ là giai đoạn cuối cùng của quá trình sản xuất kinh doanh. Thông qua
tiêu thụ giá trị và giá trị sử dụng của sản phẩm hàng hoá đợc thực hiện, doanh nghiệp
thu hồi đợc vốn bỏ ra. Cũng chính trong giai đoạn tiêu thụ này, bộ phận giá trị mới
sáng tạo ra trong khâu sản xuất đợc thch hiện và biểu hiện dới hình thức lợi nhuận.
Đẩy nhanh tốc độ tiêu thụ sẽ góp phần tăng nhanh tốc độ luân chuyển vốn nói riêng
và hiệu quả sử dụng vốn nói chung, đồng thời góp phần thoả mãn nhu cầu tiêu dùng
xã hội. Với ý nghĩa đó hạch toán quá trình tiêu thụ sản phẩm, hàng hoá có nhiệm vụ
sau :
1) Phản ánh kịp thời, đầy đủ và chính xác tình hình tiêu thụ sản phẩm, hàng
hoá, dịch vụ.
2) Tính chính xác các khoản bị giảm trừ, thanh toán với ngời kách hàng, với
ngân sách Nhà nớc và các khoản thuế phải nộp.
3) Tính toán chính xác các chi phí phát sinh trong quá trình tiêu thụ sản phẩm,
hàng hoá.
8
4) Xác định kịp thời kết quả tiêu thụ của từng mặt hàng, từng loại sản phẩm,
hàng hoá, dịch vụ cũng nh toàn bộ lợi nhuận về tiêu thụ sản phẩm, hàng
hoá, dịch vụ.
4. Các phơng thức tiêu thụ sản phẩm, hàng hoá trong
doanh nghiệp.
Phơng thức tiêu thụ là các cách thức bán hàng và thanh toán tiền hàng giữa
doanh nghiệp và khách hàng.
Trên thực tế sản phẩm hàng hoá có thể đợc tiêu thụ theo các cách sau :
1.1. Bán buôn
Bán buôn là phơng thức bán hàng với số lợng lớn và hàng hoá sau khi bán vẫn còn
trong lĩnh vực lu thông.
Theo phơng thức bán buôn có 2 hình thức bán hàng là :
Bán buôn qua kho : là phơng thức bán buôn sản phẩm hàng hoá mà hàng bán đợc
xuất ra từ chính kho của doanh nghiệp. Trong phơng thức này có 2 hình thức
bán :
+ Bán buôn qua kho theo hình thức giao hàng trực tiếp : Theo hình thức này
doanh nghiệp xuất hàng bán ngay tại kho của doanh nghiệp và giao trực tiếp cho đại
diện bên mua hàng. Sau khi đại diện bên mua hàng nhận đủ hàng, thanh toán tiền
hàng hoặc chấp nhận thanh toán thì hàng hoá đợc xác nhận là tiêu thụ doanh nghiệp
mất quyền kiểm soát và sở hữu số hàng đó.
+ Bán buôn qua kho theo hình thức chuyển hàng : Theo hình thức này, căn cứ vào
hợp đồng mua hàng đã ký kết hoặc đơn đặt hàng của khách hàng doanh nghiệp xuất
kho hàng hoá theo yêu cầu bằng phơng tiện vận tải của mình hoặc thuê ngoài đến
một địa điểm đã thoả thuận trớc với bên mua và giao hàng cho bên mua. Hàng hoá
trong quá trình vận chuyển vẫn thuộc quyền sở hữu của doanh nghiệp. Số hàng này
chỉ đợc xác định là tiêu thụ khi nhận đợc tiền do bên mua thanh toán hoặc thông báo
9
chấp nhận thanh toán của bên mua. Chi phí vận chuyển số hàng này do doanh
nghiệp chịu hay bên mua chịu là do sự thoả thuận trớc trong hợp đồng giữa hai bên.
Nếu doanh nghiệp chịu chi phí vận chuyển thì khoản chi phí này sẽ đợc ghi vào chi
phí bán hàng. Nếu bên mua chịu, chi phí vận chuyển
Bán buôn vận chuyển thẳng không qua kho : là phơng thức bán buôn sản phẩm
hàng hoá theo hình thức sau khi mua hàng, doanh nghiệp nhận hàng mua không
đa về nhập kho mà chuyển bán thẳng cho bên mua. Phơng thức này chỉ áp dụng
đối với các doanh nghiệp kinh doanh thơng mại; doanh nghiệp thơng mại phải tiến
hành thanh toán với cả bên bán và bên mua hoặc chỉ làm trung gian, môi giới để
hởng hoa hồng. Theo phơng thức này có 2 hình thức bán :
+ Bán buôn vận chuyển thẳng có tham gia thanh toán : Theo hình thức này doanh
nghiệp thơng mại vừa tiến hành thanh toán với bên cung cấp về hàng mua vừa tiến
hành thanh toán với bên mua về hàng bán. Nếu hàng hoá bán buôn vận chuyển
thẳng do doanh nghiệp thơng mại chuyển đến cho bên mua theo hợp đồng thì số
hàng đó vẫn thuộc quyền sở hữu của doanh nghiệp thơng mại trong quá trình vận
chuyển. Số hàng này đợc xem là tiêu thụ khi doanh nghiệp thơng mại nhận đợc
tiền hàng thanh toán của bên mua hoặc thông báo của bên mua đã nhận đợc hàng
và chấp nhận thanh toán. Nếu bên mua nhận hàng trực tiếp doanh nghiệp không
phải vận chuyển thì khi giao xong hàng hoá cho bên mua đồng thời bên mua
thanh toán tiền hàng hoặc chấp nhận thanh toán thì số hàng này đợc coi là tiêu
thụ.
+ Bán buôn vân chuyển thẳng không tham gia thanh toán : Theo hình thức này
doanh nghiệp chỉ làm trung gian, môi giới trong mối quan hệ giữa bên cung cấp và
bên mua. Doanh nghiệp uỷ nhiệm cho bên mua nhận hàng và thanh toán tiền hàng
với bên cung cấp về số lợng hàng trong hợp đồng mà doanh nghiệp đã ký kết với
bên cung cấp. Trong trờng hợp này, doanh nghiệp không phát sinh nghiệp vụ mua
hàng, bán hàng. Tuy nhiên tuỳ theo điều kiện ký kết trong hợp đồng mà doanh
10
nghiệp bán buôn đợc hởng một khoản hoa hồng do bên cung cấp hoặc bên mua trả;
khoản hoa hồng này đợc coi là doanh thu của quá trình tiêu thụ.
1.2. Bán lẻ.
Bán lẻ là phơng thức tiêu thụ hàng hoá với số lợng nhỏ, chấm dứt hình thức mua bán,
hàng hoá chuyển vào lĩnh vực tiêu dùng thực hiện phần giá trị sử dụng của nó. Phơng
thức tiêu thụ này thờng đợc áp dụng trong các quầy hàng, cửa hàng và siêu thị. Trong
phơng thức bán lẻ có các hình thức bán hàng sau :
Bán hàng thu tiền tập trung : Theo hình thức này, việc thu tiền của ngời mua và
giao hàng cho ngời mua tách rời nhau. Mỗi quầy hàng hoặc cửa hàng có nhân viên
thu tiền làm nhiệm vụ thu tiền của khách hàng, viết hoá đơn hoặc tích kê cho khách
hàng để khách hàng đến nhận hàng ở quầy do nhân viên bán hangf giao. Hết ca, hết
ngày bán hàng, nhân viên bán hàng căn cứ vào hoá đơn và tích kê giao hàng cho
khách hoặc kiểm kê hàng hoá tồn quầy để xác định số hàng đã bán trong ca, trong
ngày và lập báo cáo bán hàng. Nhân viên thu tiền có nhiệm vụ nộp tiền bán hàng cho
thủ quỹ và làm giấy nộp tiền.
Bán hàng thu tiền trực tiếp : Theo hình thức này, nhân viên bán hàng trực tiếp
thu tiền của khách hàng và giao hàng cho khách. Hết ca, hết ngày bán hàng, nhân
viên bán hàng nộp tiền bán hàng cho thủ quỹ và làm giấy nộp tiền hàng; sau đó kiểm
kê tồn quầy để xác định số hàng bán trong ca, trong ngày và lập báo cáo bán hàng.
Bán hàng tự chọn : Theo hình thức này, khách hàng tự chọn lấy hàng hoá, trớc
khi ra khỏi cửa hàng mang hàng đến bộ phận thu tiền để thanh toán tiền hàng. Nhân
viên thu tiền tính tiền hàng và thu tiền của khách hàng. Hình thức này áp dụng phổ
biến ở các siêu thị hoặc cửa hàng tự chọn.
1.3. Phơng thức gửi bán, chờ chấp nhận (hay còn gọi là phơng thức chuyển hàng
theo hợp đồng):
11
Theo phơng thức này, bên bán chuyển hàng cho bên mua theo địa điểm ghi
trong hợp đồng. Số hàng chuyển đi này vẫn thuộc quyền sở hữu của doanh nghiệp.
Khi đợc ngời mua thanh toán hoặc chấp nhận thanh toán về số hàng chuyển giao (một
phần hay toàn bộ) thì số hàng chấp nhận này mới đợc coi là tiêu thụ.
1.4. Phơng thức ký gửi, đại lý :
Theo phơng thức này, bên bán xuất giao hàng cho các đơn vị, cá nhân làm đại
lý. Số hàng gửi giao cho đại lý vẫn thuộc sở hữu của doanh nghiệp; chỉ khi nào nhận
đợc thông báo của các đại lý (hoặc quá thời hạn quy định) thì số hàng gửi đại lý mới
chính thức coi là tiêu thụ. Theo phơng thức này chủ hàng phải trả hoa hồng cho đại lý
và đợc tính vào chi phí bán hàng; đại lý đợc hởng hoa hồng tính vào doanh thu bán
hàng.
1.5. Phơng thức bán hàng trả góp :
Theo phơng thức này, khi giao hàng cho ngời mua thì lợng hàng chuyển giao
đợc coi là tiêu thụ, ngời mua sẽ thanh toán lần đầu ngay tại thời điểm mua một phần
số tiền phải trả và chịu một tỷ lệ lãi suất nhất định. Thông thờng số tiền trả ở các kỳ
bằng nhau, trong đó bao gồm một phần doanh thu gốc và một phần lãi suất trả chậm.
Ngoài các phơng thức trên thì một số trờng hợp sau cũng đợc coi là tiêu thụ:
+ Hàng hoá xuất để đổi lấy hàng hoá khác
+ Hàng hoá xuất để trả lơng, thởng cho cán bộ công nhân viên
+ Hàng hoá xuất làm qùa biếu, tặng trong các dịp đặc biệt nh lễ, tết, hội nghị
khách hàng
5. Các phơng thức thanh toán.
Công tác tiêu thụ sản phẩm hàng hoá trong doanh nghiệp có thể tiến hành theo
nhiều phơng thức khác nhau; mặc dù vậy việc tiêu thụ này nhất thiết phải đợc gắn với
hoạt động thanh toán với ngời mua, với cơ quan thuế về các khoản thuế của hàng hoá
tiêu thụ.
12
5.1. Thanh toán với ngời mua.
Trên thực tế hoạt động thanh toán sản phẩm hàng hoá với ngời mua có thể thực
hiện theo các phơng thức sau :
Thanh toán trực tiếp bằng tiền mặt : Theo phơng thức này, việc giao hàng và
thanh toán tiền hàng đợc thực hiện ở cùng một thời điểm và ngay tại doanh
nghiệp.
Thanh toán chậm : Là phơng thức thanh toán mà thời gian giao hàng và thời gian
thanh toán là khác nhau, tuỳ thuộc vào sự thoả thuận của hai bên.
Thanh toán qua ngân hàng : Theo phơng thức này có các hình thức sau :
+ Thanh toán bằng chuyển khoản qua ngân hàng với điều kiện ngời mua đã chấp
nhận thanh toán. Việc tiêu thụ đợc xem là đã thực hiện, doanh nghiệp chỉ cần theo
dõi việc thanh toán với ngời mua.
+ Thanh toán bằng chuyển khoản qua ngân hàng với điều kiện ngời mua có quyền từ
chối không thanh toán một phần hoặc toàn bộ giá trị hàng mua do khối lợng hàng
gửi ddến cho ngời mua không phù hợp với hợp đồng về số lợng, chất lợng và quy
cách. Theo hình thức này, sản phẩm hàng hoá đã đợc chuyển đến cho ngời mua nhng
cha đợc coi là tiêu thụ doanh nghiệp cần theo dõi tinhf hình chấp nhận hay không
chấp nhận để xử lý trong thời hạn quy định bảo đảm lợi ích của doanh nghiệp.
+ Thanh toán bằng th tín dụng (L/C) : Hình thức này thờng áp dụng đối với những
khách hàng nớc ngoài. Theo hình thức này, doanh nghiệp phải mở th tín dụng (L/C)
theo hợp đồng thơng mại đã ký kết. Tiến trình mở th tín dụng (L/C) do ngân hàng
mở th tín dụng thực hiện theo yêu cầu của ngời mua. Ngân hàng mở L/C sẽ là ngời
trả tiền cho ngời bán trên cơ sở kiểm tra mức độ phù hợp của chứng từ với L/C đã
mở.
5.2. Thanh toán với ngân sách Nhà nớc.
13
Thanh toán với ngân sách Nhà nớc là thanh toán các khoản thuế nh thuế
GTGT, thuế TTĐB, thuế xuất nhập khẩu, thuế tài nguyên, thuế nhà đất, các loại thuế,
phí, lệ phí khác với Nhà nớc.Trong phạm vi bài viết này, để tiện cho việc đối chiếu ở
phần II em chỉ đề cập đến cách xác định khoản thuế GTGT đầu ra của sản phẩm hàng
hoá tiêu thụ theo phơng pháp khấu trừ thuế. Căn cứ vào Thông t số 122/2000/TT-BTC
về việc hớng dẫn thi hành Nghị định số 79/2000/NĐ-CP ngày 29/12/2000 của Chính
phủ quy định chi tiết thi hành Luật thuế GTGT ngày 29/12/2000 thì :
Số thuế GTGT Thuế GTGT Thuế GTGT đầu vào
phải nộp đầu ra đợc khấu trừ
Trong đó, thuế GTGT đầu ra bằng giá tính thuế của hàng hoá, dịch vụ chịu thuế bán
ra nhân với thuế suất thuế GTGT của hàng hoá dịch vụ đó.
Thuế GTGT Giá tính thuế của hàng hoá, Thuế suất thuế GTGT
đầu ra dịch vụ bán ra * hàng hoá, dịch vụ bán ra
Doanh nghiệp kinh doanh thuộc đối tợng tính thuế theo phơng pháp khấu trừ
thuế khi bán hàng hoá, dịch vụ phải tính và thu thuế GTGT của hàng hoá, dịch vụ bán
ra. Khi lập hoá đơn bán hàng hoá, dịch vụ, doanh nghiệp phải ghi rõ giá bán cha có
thuế, thuế GTGT và tổng số tiền ngời mua phải thanh toán. Trờng hợp hoá đơn chỉ
ghi giá thanh toán, không ghi giá cha có thuế và thuế GTGT thì thuế GTGT của hàng
hoá, dịch vụ bán ra phải tính trên giá thanh toán ghi trên hoá đơn, chứng từ. Doanh
thu cha có thuế đợc xác định bằng giá bán trừ thuế tính trên giá bán.
III. Nội dung hạch toán tiêu thụ sản phẩm, hàng
hoá trong doanh nghiệp.
1. Tài khoản sử dụng.
1.1 Tài khoản 511 "Doanh thu bán hàng" :
14

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét