Phan Thị Toan A8K38C
PAGE _1_
_
Trường Đại Học Ngoại Thương Khoá Luận Tốt Nghiệp
Lãnh thổ Việt Nam có vị trí địa lý đặc biệt ở Đông Nam á, ở vào khoảng
102-109,3 độ kinh đông và 8,1-23,24 vĩ độ bắc. Với diện tích 331.690 km2
Việt Nam nằm ở ranh giới trung gian, nơi tiếp giáp với các lục địa (Châu á
và
Châu Đại Dương) và đại dương (Thái Bình Dương và Đại Tây Dương).
Về địa hình, Việt Nam hình chữ S, nằm ở phía đông bán đảo Đông Dương,
phía bắc giáp với Trung Quốc, phía tây giáp với Lào và Campuchia, phía
đông giáp với biển. Việt Nam nằm trong khu vực có nền kinh tế phát triển
năng động nhất, đồng thời án ngữ trên các tuyến hàng hải huyết mạch thông
thương như ấn độ và thái bình dương, châu âu-trung cận đông với Trung
Quốc…. (Địa lý kinh tế- xã hội Việt Nam- NXB Giáo Dục 2001)
Như vậy cả Việt Nam và Singapore đều có vị trí địa lý hết sức thuận lợi
đồng thời lại gần nhau (vì cùng trong khu vực Châu á). Đây là một cơ sở
thuận lợi cho sự phát triển mối quan hệ kinh tế thương mại giữa hai nước. Vì
dù rằng vị trí địa lý không có tính chất quyết định nhưng nó lại có khả năng
tạo ra những thuận lợi cũng như khó khăn cho việc trao đổi, tiếp cận, giao
thoa cùng phát triển giữa các quốc gia với nhau. Đặc biệt là trong xu thế hội
nhập của nền kinh tế khu vực và thế giới như hiện nay thì vị trí địa lý sẽ trở
thành một nguồn lực, định ra hướng phát triển có lợi nhất trong phân công
lao động toàn thế giới và xác định các mối quan hệ song phương và đa
phương của một quốc gia. Do vậy đây là yếu tố thuận lợi xét trong mối quan
hệ kinh tế thương mại giữa Việt Nam và Singapore .
Khí hậu và đất đai
Singapore nằm trong vùng khí hậu xích đạo nhiệt đới nên khí hậu thường
xuyên nóng và ẩm, độ ẩm không khí cao. Là quốc gia hải đảo với 150 km bờ
biển bao bọc xung quanh nên khí hậu Singapore quanh năm tương đối mát
mẻ và dễ chịu. Nhiệt độ bình quân trong năm là 26,7oC, dao động từ 24oC
đến 31oC, độ ẩm bình quân trong năm là 84,4%. Lượng mưa trung bình khá
lớn, khoảng 2359 mm/ năm. Tuy vậy nhưng về đất đai, phần lớn diện tích
đất Singpore đã bị đô thị hoá, do vậy đất dành cho nông nghiệp chỉ còn
khoảng 1%, đất rừng còn khoảng 5%.
Về khí hậu và đất đai Việt Nam, nước ta hoàn toàn nằm trong vòng đai nhiệt
đới của nửa cầu bắc, thiên về chí tuyến hơn là về xích đạo cho nên Việt Nam
cũng có một nền nhiệt cao, thường từ 22oC đến 27oC. Hàng năm có khoảng
100 ngày mưa với lượng mưa trung bình từ 1500 đến 2000 mm. Độ ẩm
không khí khoảng 80%. Độ ẩm không khí cao, lượng mưa lớn là những điều
kiện thuận lợi cho việc sinh trưởng và phát triển của nhiều loài sinh vật đặc
biệt là đối với các loại cây trồng như lúa nước, cây rừng, cây nhiệt
đới….Trong khi đó, khác với Singpore là ở chỗ, Việt Nam có đất đai khá
Phan Thị Toan A8K38C
PAGE _1_
_
Trường Đại Học Ngoại Thương Khoá Luận Tốt Nghiệp
nhiều. Theo số liệu của tổng cục thống kê, tiềm năng đất nông nghiệp của cả
nước là 10- 11,37 triệu ha, riêng đất trồng cây hàng năm lên tới 8 triệu
ha
(đấ
t trồng lúa khoảng 5 triệu ha) và còn lại là 2,3 triệu ha đất trồng cây lâu
năm. Trên lãnh thổ Việt Nam có nhiều loại đất với 2 nhóm đất chính là:
Feralit ở miền đồi núi và đất phù sa ở vùng đồng bằng. Đất phù sa rất thích
hợp với cây trồng. Về chất lượng, đất ở Việt Nam có tầng dày, kết cấu tơi
xốp, lượng chất dinh dưỡng cung cấp cho cây trồng khá cao nhất là đất phù
sa, đất xám. Điều này tạo điều kiện cho Việt Nam có thể đa dạng hoá chủng
loại cây trồng. Đó là chưa kể đến Việt Nam có một hệ thống rừng rậm tiêu
biểu cho rừng nhiệt đới, có nguồn tài nguyên thuỷ hải sản phong phú (cá,
tôm, trai, ốc, mực….) có giá trị dinh dưỡng cao, có tiềm năng xuất khẩu lớn.
Do vậy điều kiện khí hậu và đất đai là điều kiện thứ hai thúc đẩy việc
trao
đổ
i hàng hoá giữa hai quốc gia. Singapore có thể nhập từ Việt Nam các mặt
hàng nông, thuỷ sản bù đắp cho sự thiếu hụt trong nước do điều kiện tự
nhiên không cho phép. Thay vào đó Việt Nam có thể nhập từ Singapore sản
phẩm của nghành công nghệ cao.
II. Cơ sở v ề đ iều k i ện chính t r ị - xã hộ i
1. Dân cư, dân tộc, tôn giáo, ngôn ngữ
Dân cư, dân tộc: Singapore là một quốc gia trẻ nhiều dân tộc và đa sắc thái
văn hoá. Dân số của Singapore là gần 4,46 triệu người (tính đến tháng 7 năm
2002). Về thành phần dân tộc thì người Hoa là nhóm tộc người chính (chiếm
tới 76,7%). Nhóm tộc người lớn thứ hai là người Mã Lai (chiếm 14% dân số
Singapore). Thứ ba là cộng đồng người ấn độ, chiếm khoảng 7%. Ngoài ra
còn có cộng đồng người châu âu (chủ yếu là có nguồn gốc ănglê-xắc sông),
cộng đồng người ả rập và nhóm tộc ít người khác.
Việt Nam cũng là một quốc gia đa dân tộc (54 dân tộc anh em). Dân tộc kinh
chiếm đa số (87% dân số cả nước) sống tập chung chủ yếu ở vùng châu thổ
sông hồng, các đồng bằng ven biển miền trung, đồng bằng sông cửu long
….Còn 53 dân tộc khác phân bổ chủ yếu ở các vùng núi (chiếm 2/3 lãnh thổ)
trải dài từ bắc vào nam. Trong số các dân tộc thiểu số, đông nhất là dân tộc
Tày, Thái, Mường, Hoa, Khơ Me, Nùng… mỗi dân tộc trên dưới 1 triệu
người. Nhỏ nhất là dân tộc Brau, Roman, O-du chỉ vài trăm người. Tổng
cộng 54 dân tộc có hơn 8 triệu người. Đây là một con số không nhỏ so với
dân số Singapore. Cũng vì thế Việt Nam được coi là nơi cung cấp lực lượng
lao động dồi dào rất hấp dẫn các nhà đầu tư Singapore.
Về tôn giáo: ở Singapore, đại đa số người Hoa theo Phật giáo. Còn hầu hết
người Mã Lai theo hồi giáo, nói tiếng mẹ đẻ. Người ấn độ theo đạo hinđu và
Phan Thị Toan A8K38C
PAGE _1_
_
Trường Đại Học Ngoại Thương Khoá Luận Tốt Nghiệp
nói tiếng Tamin. Người châu âu theo đạo thiên chúa và nói tiếng anh. Từ
trước tới nay không một tôn giáo nào ở Singapore được nhà nước công nhận
là quốc giáo.
ở Việt Nam, trong các tôn giáo chủ yếu có nguồn gốc á đông như: Phật giáo,
nho giáo, đạo giáo…,Phật giáo đã được phổ biến rộng khắp ngay từ thời Bắc
thuộc và phát triển cực thịnh thời Lý- Trần. Tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên của
Phật giáo được duy trì cho tới ngày nay. Nho giáo chính thức được tiếp nhận
vào Việt Nam từ năm 1070 (khi Lí Thánh Tông cho lập văn miếu thờ Chu
Công, Khổng Tử. Nhiều công trình biểu trưng của nho giáo còn tồn tại đến
ngày nay như: Văn Miếu Hà Nội, Văn Miếu ở Huế. Đạo giáo vào Việt Nam
từ cuối thế kỷ II và có chỗ đứng ngay vì tìm thấy những tín ngưỡng tương
đồng có sẵn từ lâu như sùng bái ma thuật, phù phép…Còn tôn giáo có nguồn
gốc từ phương tây như thiên chúa giáo không phổ biến ở Việt Nam (hiện
nay chỉ có khoảng 5 triệu tín đồ).
Như vậy về tôn giáo Việt Nam và Singapore tìm thấy điểm chung ở văn hoá
phật giáo, thờ cúng tổ tiên nên sinh hoạt và ứng xử trong gia đình cũng có
nhiều nét tương đồng. Từ đó dẫn đến một nền văn hoá khá giống nhau nên
thiết lập quan hệ tương đối dễ dàng.
Về ngôn ngữ: ở Singapore nhà nước công nhận cả 4 thứ tiếng gồm tiếng Mã
Lai, tiếng Hoa phổ thông, tiếng Tamin và tiếng Anh là những ngôn
ngữ
chính,
trong đó tiếng anh là ngôn ngữ chính trong thương mại, hành chính và
giáo dục.
Còn ở Việt Nam : Dân tộc Kinh chiếm đa số dân số của cả nước nói tiếng
kinh. 53 dân tộc khác mỗi dân tộc có ngôn ngữ của mình. Tiếng kinh là tiếng
phổ thông. Và trong những năm qua do xu thế mở cửa hội nhập thế giới nên
mặc dù tiếng anh là tiếng ngoại ngữ song cũng rất phổ biến ở Việt Nam .
Do vậy xét riêng trong quan hệ buôn bán thì đây cũng là một thuận l
ợ
i
cho 2 phía bởi vì cả Việt Nam và Singapore đều có thể sử dụng tiếng Anh
làm công cụ trong trao đổi buôn bán.
2.Nhà nước và chính trị
ở Singapore có 22 đảng phái chính trị khác nhau trong đó Đảng Hành Động
Nhân Dân (PAP) cầm quyền từ hơn 30 năm nay và vẫn tiếp tục giữ vị trí
thống trị. Lãnh tụ của đảng này trước đây là ông Lý Quang Diệu và hiện nay
là ông Goh Chok Tong. Sau khi lên nắm quyền lãnh đạo, Đảng PAP chủ
trương xây dựng một nền kinh tế thị trường có điều tiết (cũng giống như
Việt Nam sau này). Theo hiến pháp, Singapore là một nước cộng hoà, đứng
đầu nhà nước là Tổng thống do toàn dân lựa chọn theo phổ thông đầu phiếu.
Phan Thị Toan A8K38C
PAGE _1_
_
Trường Đại Học Ngoại Thương Khoá Luận Tốt Nghiệp
Tổng thống có nhiệm kỳ 6 năm, hiện nay là ông Stellapan nhậm chức từ
01/9/1999. Đứng đầu chính phủ là thủ tướng. Thủ tướng hiện nay của
Singapore là ông Goh Chok Tong nhậm chức ngày 28/11/1990 và được bổ
nhiệm lại 2 lần năm 1997 và 2001. Thủ tướng và các thành viên nội các do
tổng thống bổ nhiệm từ các đại biểu của nghị viện. Tổ chức nhà nước gồm 3
cơ quan chính: cơ quan lập pháp (gồm nghị viện và hội đồng tổng thống), cơ
quan hành pháp (bao gồm các bộ, ban nghành chức năng của chính
phủ,
đứng
đầu nội các là chính phủ và tổng thống), cơ quan xét xử (gồm toà án
tối cao và toà án địa phương).
Khác với Singapore có 22 đảng phái chính trị khác nhau thì Việt Nam chỉ có
một đảng duy nhất: đó là Đảng Cộng Sản Việt Nam. Đảng Cộng Sản Việt
Nam ra đời sớm hơn Đảng Hành Động Nhân Dân (PAP) rất
nhiều
(3/2/1930).
Điều 4 hiến pháp nước cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam có
ghi “Đảng Cộng Sản Việt Nam, đội tiên phong của giai cấp công nhân Việt
Nam, đại biểu trung thành quyền lợi của giai cấp công nhân….là lực lượng
lãnh đạo nhà nước và xã hội”. Thực tế Đảng Cộng Sản Việt Nam đã tổ chức
và lãnh đạo xã hội thực hiện mọi thắng lợi của dân tộc Việt Nam: đánh
đổ
ách
đô hộ của thực dân Pháp lập nên nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hoà
(năm 1945) và đánh đổ đế quốc Mỹ thống nhất đất nước (năm 1975). Năm
1986 Đảng Cộng Sản Việt Nam đã khởi xướng và lãnh đạo công cuộc đổi
mới đưa đất nước thoát khỏi khủng hoảng kinh tế, xã hội, bước vào thời kỳ
đẩy mạnh CNH-HĐH đất nước nhằm mục tiêu đưa Việt Nam trở thành một
nước công nghiệp vào năm 2020. Đảng Cộng Sản Việt Nam tổ chức theo
nguyên tắc tập trung dân chủ: có ban chấp hành trung ương (BCH TW). ban
chấp hành trung ương bầu ra bộ chính trị và tổng bí thư. Tổng bí thư đầu tiên
của Đảng Cộng Sản Việt Nam là ông Trần Phú, hiện nay là ông Nông Đức
Mạnh. Tổ chức bộ máy nhà nước gồm: quốc hội (là cơ quan lập hiến, lập
pháp, bầu ra chủ tịch từ các đại biểu quốc hội), toà án nhân dân tối cao (là cơ
quan xét xử), viện kiểm sát nhân dân tối cao (kiểm tra việc tuân theo pháp
luật của các bộ, cơ quan ngang bộ, các cơ quan khác… đảm bảo cho pháp
luật được chấp hành nghiêm chỉnh và thống nhất. Ngoài ra ở Việt Nam còn
có Mặt trận tổ quốc Việt Nam (là cơ sở chính trị của chính quyền nhân dân),
tổ chức công đoàn (chăm lo và bảo vệ quyền lợi của cán bộ, công nhân viên
chức và những người lao động khác), hội phụ nữ, đoàn thanh niên, hội cựu
chiến binh…
Như vậy mặc dù Việt Nam và Singapore có chế độ chính trị khác nhau song
trong xu hướng toàn cầu hoá đang diễn ra mạnh mẽ như hiện nay thì hợp tác
chặt chẽ giữa các quốc gia, tôn trọng độc lập chủ quyền và toàn vẹn lãnh
thổ, không phân biệt chế độ chính trị xã hội được đưa lên hàng đầu, nên sự
Phan Thị Toan A8K38C
PAGE _1_
_
Trường Đại Học Ngoại Thương Khoá Luận Tốt Nghiệp
khác biệt này sẽ không phải là rào cản. Ngược lại đây là cơ hội để Việt Nam
có thể trao đổi với một quốc gia phát triển nhất khu vực Đông Nam á đồng
thời học tập Singapore về cách quản lý về mọi mặt.
III. Cơ sở kinh tế
Nói đến cơ sở kinh tế tức là chúng ta sẽ đề cập đến chiến lược phát triển
kinh tế và các chính sách phát triển kinh tế của hai quốc gia: Việt Nam và
Singpore .
1.Kinh tế Singapore
Chiến lược phát triển kinh tế của Singapore là việc chuyển đổi từ chiến lược
công nghiệp hoá thay thế nhập khẩu sang chiến lược công nghiệp hoá hướng
về xuất khẩu (hay nói cách khác là chuyển từ chiến lược đóng cửa nền kinh
tế sang chiến lược mở cửa nền kinh tế).
Chiến lược công nghiệp hoá thay thế nhập khẩu: Chiến lược công nghiệp
hoá thay thế nhập khẩu được hầu hết các nước công nghiệp phát triển tiến
hành trong thế kỷ 19. Một số nước châu á bắt đầu thực hiện chiến lược này
từ trước chiến tranh thế giới thứ II. Bản chất của chiến lược này là nhằm
thoả mãn nhu cầu trong nước để xây dựng một nền kinh tế độc lập, không
phụ thuộc bên ngoài. Do vậy mà ngoại thương không được chú trọng mà chỉ
chú trọng đến khả năng tự cung tự cấp của thị trường nội địa.
Singapore áp dụng chiến lược này từ những năm 1960-1965. Sau
khi
thoát khỏi ách thống trị của thực dân Anh, quốc gia Singapore gặp nhiều khó
khăn trở ngại: nguồn cung cấp nguyên liệu giảm, thất nghiệp tăng nhanh….
buộc Singpore phải tiến hành công nghiệp hoá trên cơ sở xây dựng và phát
triển nghành công nghiệp hướng nội. Để kích thích các nhà tư bản trong và
ngoài nước mở rộng kinh doanh trong các nghành công nghiệp non trẻ nhằm
tạo thêm công ăn việc làm và tạo ra nhiều sản phẩm phục vụ nhu cầu trong
nước, chính phủ Singapore đã thi hành chính sách bảo hộ hàng nội địa bằng
hàng rào thuế quan, hạn chế hàng ngoại nhập cả về số lượng và chủng loại
đồng thời áp dụng những ưu đãi về tài chính cho các hoạt động kinh doanh
trong nước:
Ví dụ: miễn thuế cho các xí nghiệp tiên phong mới thành lập trong năm năm
đầu, miễn thuế nhập khẩu nguyên liệu và máy móc từ bên ngoài, cho các xí
Phan Thị Toan A8K38C
PAGE _1_
_
Trường Đại Học Ngoại Thương Khoá Luận Tốt Nghiệp
nghiệp lớn vay vốn với lãi suất thấp hơn lãi suất thị trường…Điều này đã
mang lại cho Singpore một số kết quả khả quan: tạo thêm công ăn việc làm,
nâng giá trị nghành công nghiệp chế biến trong tổng sản phẩm quốc
dân(GDP) từ 13,2% (năm 1960) lên 15,6% (năm 1965). Tuy vậy do hạn chế
của chính sách bảo hộ mậu dịch, mất ổn định chính trị, cơ sở hạ tầng chưa
được hoàn thiện nên số vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) đổ vào
Singapore từ năm 1959-1965 chỉ khoảng 40 triệu USD. Nền kinh tế
Singapore vẫn nằm trong tình trạng là một nền sản xuất nhỏ, tỉ lệ thất nghiệp
cao (chiếm 10% lực lượng lao động), đời sống nhân dân chưa được cải thiện
với mức thu nhập bình quân đầu người còn thấp (500 USD/người). Điều này
đòi hỏi Singpore phải chuyển sang chiến lược công nghiệp hoá hướng
về
xuấ
t khẩu (từ năm 1965 đến nay).
Chiến lược công nghiệp hoá hướng về xuất khẩu: là chiến lược mở cửa nền
kinh tế, hướng ra thị trường bên ngoài, do vậy mà ngoại thương được chú
trọng. áp dụng chiến lược này, mỗi quốc gia có thể tận dụng lợi thế so sánh
của mình trong trao đổi buôn bán nhằm tối đa hoá lợi ích cho mình. Đây là
chiến lược mà hầu hết các quốc gia trong nền kinh tế hiện đại đều theo đuổi.
Với Singapore cũng vậy, sau khi tách khỏi liên bang Malaysia, chính phủ
Singapore bắt tay ngay vào thựcàšiện chiến lược n•y. ĐiểU đầu tiên trong
èhiến lược công nghiệp hoá hướng về xuất khẩu của Singapore là lựa chọn
v khuyến khích những ngành công nghiệp sử dụng nhiều lao động như:
chế biến gỗ, chế biến thực phẩm, lắp ráp cácưthiết bị điện dân dụng, các
phương tiện giao thông vận tải, ngành kéo sợ_, ngành may mặc,xây dựng
các cơ sở lọc dầu và đóng tàu biển Việc thu hởt đầu tư vào những ngành
này giúp SFngapore giải quyết tình trạng thất Å_hiệp, nhanh chóng tạo ra
sản phẩm đ# xuất khẩu và tăng nhanh nguồn vốn tích luỹ ban đầu cho đầu
tư. Trong khi ẻó nhu cầd của các nước tư bản như: Mỹ, Nhật bản… ngay từ
Thững năm 1960s đã có nhu cầu thay đổi nhanh các xí nghiệp sử dụng nhiều
lao động sang các nước đang phát triển để nâng cấp, hˆện đại hGá các xí
nghiệp mới, sử dụng nhiều vốn và có trì–h độ công ngh cao. Singapore đã
đón nhận luồng di dời của các xí nghiệp—này một cách kịp thời để phát
triển nghành công nghiệp trong ầước.
Đến giữ` những năm 1970s, chiến lược công nấhiệp hoá hướng về xuất
khẩu, sử dụng nhiều lao động đã mang lại cho Singapore những thành quả
tốt đẹp: ngành công nghiệp chế biến đã tạo ra được gần 150000 việc làm
mới, giá trị xuất khẩu của ngành này đã tăng từ 43% lêá#55%, nạn thất
nghiệp hầu như được thanh toán. Nhưng bên cạnh đó cũng tồn tại mặt hạn
chế của nó, đó là: việc ưu tiên những nghành sử dụng nhiều lao động dẫn
đến việc cải tiến công ng
Phan Thị Toan A8K38C
PAGE _1_
_
Trường Đại Học Ngoại Thương Khoá Luận Tốt Nghiệp
ử, nâng cao tay nghề ít được chú trọng, do vậy năng suất lao động thấp, hạn
chế khả năng tạo ra những sản phẩm có giá trị cao. Mặt khác nhu cầu xây
dựng cơ sở hạ tầng kinh tế tăng lên từ giữa những năm 1970s đẩy Singapore
vào tình trạng thiếu lao động. Sự gia tăng các hàng rào thuế quan bảo
hộ
mậu
dịch ở các nước phương tây từ cuối những năm 1970s cùng sự cạnh
tranh của những hàng xuất khẩu từ các nước có mức lương thấp trong khu
vực gây ra trở ngại đối với xuất khẩu hàng của Singapore. Do vậy từ cuối
những năm 1970s, chính phủ Singapore bắt đầu từng bước thay thế các xí
nghiệp sử dụng nhiều lao động, điều chỉnh nền kinh tế theo hướng hiện đại
hoá
công nghệ và sử dụng nhiều chất xám.
Để tạo điều kiện cho chiến lược công nghiệp hoá hướng về xuất khẩu phát
huy hiệu lực, chính phủ Singpore đã tiến hành nhiều biện pháp hành chính
quan trọng mà chúng ta phải kể đến đó là:
-Thứ nhất là thực hiện chính sách mậu dịch tự do: chính sách mậu dịch tự do
được Singapore áp dụng nhằm tạo ra một môi trường kinh doanh thuận lợi
với việc xoá bỏ hàng rào thuế quan. Chính phủ Singapore đặc biệt khuyến
khích nền kinh tế tự do bằng cách đề ra những ưu đãi về thuế và tài chính,
khuyến khích mở cửa các ngành công nghiệp, khuyến khích các nhà đầu tư
nước ngoài và các tập đoàn đa quốc gia lập trụ sở của mình tại Singapore.
Mỗi thành viên có thể tự do lựa chọn ngành nghề kinh doanh. Chính phủ
không can thiệp vào công việc kinh doanh của mỗi cá nhân, không thu thuế
xuất nhập khẩu mà chỉ thiết lập một môi trường kinh doanh thích hợp thông
qua hệ thống pháp lý toàn diện:
( Đối với hàng xuẩt khẩu: nhìn chung Singapore không đánh thuế hàng xuất
khẩu nhưng cũng áp dụng hạn nghạch hoặc giấy phép để quản lý một số mặt
hàng cần thiết.
( Đối với hàng nhập khẩu: Bộ tài chính Singapore quy định chỉ đánh thuế
đối với một số ít mặt hàng tuỳ theo các thời điểm khác nhau. Các mặt hàng
chịu thuế nhập khẩu thường là: rượu, bia, đồ gỗ, xăng dầu và một số ít mặt
hàng tiêu dùng khác nhằm bảo vệ các mặt hàng sản xuất trong nước. Việc
nhập khẩu các mặt hàng như máy móc, trang thiết bị nguyên liệu thô được
miễn thuế nhập khẩu. Hàng nhập khẩu từ asean được hưởng thuế suất ưu
đãi.
Chính sách thương mại tự do không chỉ là tự do trong buôn bán mà còn mở
rộng đến mọi mặt của đời sống xã hội. Để thực hiện thành công chính sách
này Singapore áp dụng rất nhiều đạo luật khác nhau, ví dụ:
( Luật kinh tế: chỉ đạo và điều tiết các hoạt động kinh tế, đây là cơ sở
cho
việc thành lập hội các nhà kinh tế.
Phan Thị Toan A8K38C
PAGE _1_
_
Trường Đại Học Ngoại Thương Khoá Luận Tốt Nghiệp
( Luật về hệ thống khuyến khích và phát triển kinh tế: tạo cơ sở pháp lý cho
việc miễn thuế đối với các nghành công nghiệp mũi nhọn, khuyến khích hiện
đại hoá và mở rộng hoạt động kinh doanh.
( Luật về thuế thu nhập: quy định các khoản thu nhập của cá nhân hay tập
thể xí nghiệp phải nộp.
( Luật công ty: quy định về các thủ tục đăng ký thành lập và hoạt động của
các công ty ở Singapore.
( Luật ngân hàng: quy định về các thủ tục cấp giấy phép cho hoạt động tín
dụng.
( Luật chứng khoán: quy định về thành lập và hoạt động của các thị trường
chứng khoán.
( Luật quy định về quỹ dự phòng TW: làm cơ sở cho việc thành lập và hoạt
động của hình thức bảo hiểm xã hội và an ninh quốc gia.
( Luật về văn tự và đất đai: những quy định về quyền sở hữu và cho thuê
đấ
t.
(
Luật về cơ quan tiền tệ: xác định những chức năng của cơ quan này với tư
cách là cơ quan tài chính ngân hàng và hoạt động ngân hàng.
-Thứ hai phải kể đến là chính sách khuyến khích đầu tư của Singpore: Chính
phủ đã đưa ra hàng loạt chính sách đổi mới công nghệ để thu hút đầu tư
nước ngoài, đặc biệt là đầu tư vào các nghành công nghiệp non trẻ.
Singapore tiếp tục đưa ra hàng loạt luật quy định: luật mở rộng kinh tế năm
1967 và được bổ sung vào năm 1970, luật khuyến khích mở rộng kinh tế ban
hành năm 1971. Các luật trên tiếp tục được điều chỉnh bổ sung với những
điều kiện ngày càng thuận lợi hơn để thu hút các nhà đầu tư nước ngoài. Cụ
thể các nhà đầu tư nước ngoài ở Singapore được hưởng rất nhiều ưu đãi:
( Không quốc hữu hoá các xí nghiệp nước ngoài, miễn thuế 5 năm cho các
ngành công nghiệp mũi nhọn, miễn thuế lãi suất tín dụng, thuế quảng cáo.
Trong quá trình kinh doanh nếu bị thua lỗ thì không phải nộp thuế trong 3
năm và có thể kéo dài thời hạn miễn thuế nếu tiếp tục bị lỗ.
( Đối với các cá nhân nước ngoài: không phân biệt quyền sở hữu kinh doanh
giữa nhà đầu tư nước ngoài và nhà đầu tư bản xứ, các nhà đầu tư nước
ngoài được tự do chuyển đổi tiền tệ và chuyển vốn lợi nhuận về nước, được
thuê mướn người nước ngoài vào Singapore để vận hành máy móc thiết bị
của mình, được miễn thuế khi vay vốn nước ngoài, miễn thuế nhập khẩu bản
quyền và bằng phát minh sáng chế, miễn thuế đầu tư vào nghiên cứu khoa
học và đào tạo tay nghề và nâng cấp công nghệ, có thể không bị đánh thuế
với những nguyên liệu, thiết bị không có sẵn ở Singapore.
( Đồng thời chính phủ cũng có chính sách khuyến khích đối với các nhà tư
bản công nghiệp và chuyên gia kỹ thuật nước ngoài, đó là nếu họ có vốn đầu
Phan Thị Toan A8K38C
PAGE _1_
_
Trường Đại Học Ngoại Thương Khoá Luận Tốt Nghiệp
tư đạt 125.000 $ thì sẽ được hưởng chế độ nhập cảnh, cư trú dễ dàng và nếu
sau 5 năm tiếp tục đầu tư sẽ có quyền cư trú vĩnh viễn cùng cả gia đình. Nếu
số vốn đã đầu tư vào công nghệ chế biến, chế tạo thì sẽ được hưởng ngay
quyền cư trú vĩnh viễn. Các kỹ sư, chuyên gia, công nhân có tay nghề cao
được phép tự do nhập cư và làm việc lâu dài tại Singapore.
( Ngoài ra nhà nước còn có chính sách miễn thuế : đối với những dự án có số
vốn đầu tư từ 1 triệu USD trở lên miễn thuế từ 5 đến 10 năm, với những
dự
án
có số vốn đầu tư dưới 1 triệu USD nhưng sản phẩm làm ra có chất lượng
cao cũng được miễn thuế. Những xí nghiệp như thế này có thể được nhà
nước cho vay vốn với lãi suất thấp hoặc nhà nước sẽ mua cổ phần và bảo
hiểm đầu tư. Những xí nghiệp có sản phẩm chủ yếu dành cho xuất khẩu sẽ
được giảm thuế lợi tức, thuế xuất khẩu và hưởng ưu đãi nhiều hơn những xí
nghiệp có sản phẩm phục vụ thị trường nội địa.
Các biện pháp này giúp Singapore có một nguồn vốn đầu tư trực tiếp tăng
nhanh từ 157 triệu đô la Singpore (S$) năm 1960-1965 lên 6,35 tỷ S$ (năm
1979) và đạt tới 19 tỉ S$ (năm 1989). Trong những năm gần đây, chính phủ
Singapore tiếp tục duy trì đa dạng hoá đầu tư trong đó chú trọng tăng cường
quan hệ với các nước trong khu vực châu á- thái bình dương trong đó có
Việt Nam vì các nước trong khu vực này là thị trường tiêu thụ lớn, tiềm năng
phát triển kinh tế cao, tài nguyên phong phú, lao động rẻ…
-Thứ 3:Phát triển kết cấu hạ tầng toàn diện:
Trước hết, chính phủ Singapore quan tâm đến phát triển kết cấu hạ tầng kỹ
thuật hiện đại như: xây dựng các khu công nghiệp, kho bãi nhà
xưởng,
đường
sá, bến bãi… để thu hút đầu tư. Xuất phát từ lí do quỹ đất có hạn nên
buộc chính phủ Singapore phải tiến hành quy hoạch đô thị và quản lý đất
đai. Ngay từ thập kỷ 60-70 chính phủ Singapore đã thực hiện chính sách
trưng thu đất trong diện quy hoạch và bồi thường chủ đất bằng tiền hoặc
bằng đất. ở giai đoạn sau chính phủ mua lại đất với giá thị trường.
Đi đôi với phát triển kết cấu hạ tầng kỹ thuật là phát triển kết cấu hạ tầng xã
hội trong đó đặt giáo dục đào tạo nguồn nhân lực có kỹ năng kỹ thuật lên
hàng đầu. Bởi vì nhân lực là nguồn có sẵn duy nhất ở Singapore. Do vậy
chính phủ đã chủ trương giáo dục hướng nghiệp ngay từ đầu bên cạnh việc
giáo dục kiến thức phổ thông. Ngoài ra chính phủ thường xuyên cải cách bộ
máy hành chính, thiết lập hệ thống pháp luật toàn diện, lấy pháp luật làm nền
tảng cho mọi hoạt động, thành lập uỷ ban điều tra các hành vi tham nhũng…
để dần dần nâng cao hiệu lực của bộ máy quản lý nhà nước.
Các chính sách này nhằm tạo ra một nền kinh tế thị trường tự do. Để hỗ trợ
cho việc theo đuổi nền kinh tế thị trường tự do, chính phủ Singapore đã
Phan Thị Toan A8K38C
PAGE _1_
_
Trường Đại Học Ngoại Thương Khoá Luận Tốt Nghiệp
thành lập hai cơ quan: Hội đồng phát triển thương mại Singapore (STDB) có
chức năng khuyến khích xuất khẩu ra nước ngoài và Hội đồng phát triển
kinh tế Singapore (SEDB) có chức năng thu hút nhiều đầu tư vào Singapore
.
Kết quả: Sau hơn 30 năm thực hiện chính sách đổi mới kinh tế, Singapore đã
đạt được những thành tựu kỳ diệu về phát triển kinh tế với mức tăng trưởng
cao liên tục, thể hiện ở bảng sau:
Bảng1 : Tốc độ tăng trưởng kinh tế của Singapore
Năm
1995
1996
1997
1998
1999
2000
Tốc độ tăng trưởng kinh tế (%)
8,9
6,2
7,8
1,3
5,5
9
Nguồn: Vụ Châu á II- Bộ Ngoại Giao
Năm 1998 do ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng tài chính tiền tệ trong khu
vực tốc độ tăng trưởng GDP của Singapore chỉ còn 1,3% song các năm sau
lại có dấu hiệu phục hồi lại. Năm 2000, tốc độ tăng trưởng của Singapore
cao nhất (9,0%) tuy vậy năm 1996 đánh dấu mốc quan trọng đối với
Singapore, Singapore là quốc gia đầu tiên ở khu vực đông nam á được
OECD xếp vào hàng ngũ các nước phát triển.
Singapore cũng đã giải quyết được nạn thất nghiệp giảm từ 3,9%(năm 1987)
xuống còn 1,9%(năm 1993), đây có thể được coi là một cố gắng lớn của
Singapore. Đồng thời Singapore nhanh chóng biến từ một nền kinh tế thu
nhập chủ yếu dựa vào buôn bán chuyển khẩu sang nền kinh tế có nền công
nghiệp chế biến chế tạo phát triển cao, tạo ra sản phẩm để xuất khẩu, từ đó
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét