Thứ Năm, 13 tháng 2, 2014

Quan hệ biện chứng giữa lực lượng sản xuất với quan hệ sản xuất

thành gắn liền với quá trình sản xuất và phát triển của khoa học kỹ thuật. Nó
là kết quả của rất nhiều yếu tố, trong đó quan trọng và trực tiếp nhất là trí tuệ
của con người được nhân lên trên cơ sở kế thừa nền văn minh vật chất trước
đó.
Trình độ phát triển của tư liệu lao động mà trong đóđặc biệt là công
cụ sản xuất là thước đo trình độ chinh phục tự nhiên của con người, đồng thời
đó cũng là cơ sở xác định trình độ của sản xuất và là tiêu chuẩn đánh giá sự
khác nhau giữa các thời đại kinh tế , các chếđộ chính trị xã hội.
Song nhân tố quyết định của lực lượng sản xuất phải nói tới nhân tố
người lao động. Lênin đã nói: “Lực lượng sản xuất hàng đầu của toàn thể
nhân loại là công nhân, là người lao động” [V.I. Lenin Toàn tập, tập 38_ nhà
xuất bản Tiến bộ_ Matxcơva_ năm 1977_ trang 430]. Dù tư liệu sản xuất
cóđối tượng lao động phong phú, giàu cóđến mức nào, có tư liệu lao động
tinh xảo và hiện đại đến đâu chăng nữa nhưng nếu tách khỏi người lao động
thì cũng không phát huy được tác dụng tích cực của nó. Trong lịch sửđã và sẽ
không tồn tại một hình thức sản xuất vật chất nào mà lại không có nhân tố con
người. C.Mac và Ph.Ăng-ghen đã viết: “Bản thân con người bắt đầu được
phân biệt với súc vật ngay khi con người bắt đầu sản xuất ra những tư liệu
sinh hoạt ” [C.Mac và Ph.Ăng-ghen tuyển tập, tập 1_ Nhà xuất bản Sự thật_
Hà Nội_ năm 1980_ trang 268]. Con người là nhân tố trung tâm và là mục
đích của nền sản xuất xã hội. Sản xuất suy đến cùng làđể tiêu dùng, không có
tiêu dùng thì cũng không có sản xuất nhất là trong điều kiện ngày nay, khi
công cuộc cách mạng khoa học – công nghệ phát triển mạnh mẽ thì vị trí
trung tâm của con người ngày càng được nhấn mạnh. Người lao động với tư
cách là một bộ phận của lực lượng sản xuất xã hội phải là người có sức lực
(sức khoẻ), kĩ năng lao động , tri thức khoa học , tri thức công nghệ và cả tính
nhân văn ( bao hàm cả các giá trịđạo đức).
b) Quan hệ sản xuất.
5
Trong quá trình sản xuất con người cần phải có mối quan hệ xã hội
với nhau. Tổng thể các mối quan hệđóđược gọi là mối quan hệ sản xuất. Quan
hệ sản xuất là toàn bộ những quan hệ giữa người với người trong quá trình
sản xuất và tái sản xuất vật chất của xã hội: sản xuất – phân phối – trao đổi –
tiêu dùng. Tổng thể các quan hệ xã hội này có thểđược phân tích trên 3 yếu tố
cơ bản:
Thứ nhất, quan hệ sở hữu đối với tư liệu sản xuất tức là quan hệ giữa
con người đối với tư liệu sản xuất, nói cách khác tư liệu sản xuất thuộc về ai.
Đây là quan hệ cóý nghĩa quyết định đối với các mặt quan hệ khác.
Thứ hai, quan hệ trong tổ chức và quản lý sản xuất , kinh doanh, tức là
quan hệ giữa người với người trong sản xuất và trao đổi của cải vật chất như
phân công chuyên môn hoá và hợp tác hóa lao động, quan hệ giữa người quản
lý với công nhân. Trong thực tế, thích ứng với một kiểu sở hữu là một chếđộ
tổ chức và quản lý nhất định. Mặc dù phụ thuộc vào quan hệ sở hữu nhưng tổ
chức và quản lý sản xuất có tác dụng rất lớn đối với quá trình sản xuất và với
các mặt quan hệ khác của quan hệ sản xuất. Chính quan hệ về tổ chức và quản
lý sản xuất là nhân tố tham gia quyết định trực tiếp đến quy mô, tốc độ và
hiệu quả của nền kinh tế.
Thứ ba, quan hệ phân phối sản phẩm lao động: tuy quan hệ này phụ
thuộc vào quan hệ sở hữu và vào trình độ tổ chức quản lý sản xuất nhưng đến
lượt mình thông qua tổ chức và quản lý, nó trở thành chất xúc tác quan trọng
đặc biệt đối với sự tăng trưởng kinh tế.
Ba mặt quan hệ nói trên là một thể thống nhất hữu cơ, quan hệ chặt
chẽ với nhau và cùng một mục tiêu chung là sử dụng hợp lý và có hiệu quả tư
liệu sản xuất để làm cho chúng không ngừng được tăng trưởng, thúc đẩy tái
sản xuất mở rộng, nâng cao phúc lợi người lao động. Vì vậy không nên tuyệt
đối hoá bất kỳ một mặt quan hệ nào mà phải chúýđến tính đồng bộ của cả ba
mặt quan hệ trong quan hệ sản xuất.
6
Như vậy tính vật chất của quan hệ sản xuất thể hiện ở chỗ nó tồn tại
khách quan độc lập hoàn toàn với ý thức của con người. Mác đã chỉ ra rằng
trong sự sản xuất xã hội ra đời sống của mình, con người có những quan hệ
nhất định, tất yếu không phụ thuộc vào ý muốn của họ. Tức là những quan hệ
sản xuất này phù hợp với trình độ phát triển nhất định của các lực lượng sản
xuất vật chất của họ. Vì vậy con người không thể tuỳ tiện lựa chọn quan hệ
sản xuất riêng cho mình, bởi vì chúng luôn luôn là kết quả phát triển tất yếu
khách quan của một lực lượng sản xuất hiện có tương ứng với nó.
c) Quan hệ giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất.
* Lực lượng sản xuất quyết định quan hệ sản xuất:
Để nâng cao hiệu quả trong sản xuất và giảm bớt lao động nặng nhọc, con
người không ngừng cải tiến, hoàn thiện và chế tạo ra những công cụ sản xuất
mới ngày càng tinh xảo và hiện đại. Đồng thời với sự tiến bộ của công cụ, tri
thức khoa học, trình độ chuyên môn kỹ thuật và mọi kỹ năng kỹ xảo của
người lao động cũng ngày càng phát triển. Cùng với sự phát triển của lực
lượng sản xuất âý, quan hệ sản xuất cũng hình thành và biến đổi cho phù hợp
với tính chất và trình độ phát triển của lực lượng sản xuất, sự phù hợp đó
làđộng lực làm cho lực lượng sản xuất phát triển mạnh mẽ. Lực lượng sản
xuất là nội dung, là phương thức còn quan hệ sản xuất là hình thức xã hội của
nó. Trong mối quan hệ giữa nội dung và hình thức thì nội dung quyết định
hình thức, hình thức phụ thuộc vào nội dung, nội dung thay đổi trước sau đó
hình thức thay đổi theo. Chính vì thế cần khẳng định lực lượng sản xuất quyết
định sự hình thành, phát triển và biến đổi của quan hệ sản xuất.
* Quan hệ sản xuất tác động trở lại đối với lực lượng sản xuất:
Như trên ta thấy lực lượng sản xuất là nhân tố thường xuyên biến đổi,
phát triển không ngừng trong khi đó quan hệ sản xuất màđặc biệt là nhân tố
sở hữu về tư liệu sản xuất lại có tính ổn định lâu dài. Quan hệ sản xuất khi
đãđược xác lập thì nóđộc lập tương đối với lực lượng sản xuất, trở thành
7
những cơ sở và những thể chế xã hội và nó không thể biến đổi đồng thời đối
với lực lượng sản xuất mà thường có xu hướng lạc hậu hơn so với lực lượng
sản xuất. Khi đó nó tác động trở lại đối với lực lượng sản xuất, có thể thúc
đẩy hoặc kìm hãm sự phát triển của lực lượng sản xuất. Nếu quan hệ sản xuất
phù hợp với tính chất và trình độ phát triển của lực lượng sản xuất, nó sẽ trở
thành động lực thúc đẩy, định hướng và tạo điều kiện cho lực lượng sản xuất
phát triển. Ngược lại, nếu lạc hậu hơn so với tính chất và trình độ phát triển
của lực lượng sản xuất, quan hệ sản xuất sẽ là xiềng xích kìm hãm sự phát
triển của lực lượng sản xuất. Ngay cảtrong trường hợp quan hệ sản xuất đi
quá xa so với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất thì nó cũng kìm hãm
sự phát triển của lực lượng sản xuất.
Sở dĩ quan hệ sản xuất có thể tác động mạnh mẽ trở lại đối với lực
lượng sản xuất (thúc đầy hoặc kìm hãm ), vì nó quy định mục đích của sản
xuất, quy định hệ thống tổ chức quản lý sản xuất và quản lý xã hội, quy định
phương thức phân phối và phần của cải ít hay nhiều mà người lao động được
hưởng. Do đó nóảnh hưởng đến thái độ quảng đại quần chúng lao động - lực
lượng sản xuất chủ yếu của xã hội, nó tạo ra những điều kiện kích thích hoặc
hạn chế việc cải tiến công cụ lao động, áp dụng những thành tựu khoa khọc và
kỹ thuật vào sản xuất, hợp tác và phân phối lao động.
Tuy nhiên, không được hiểu một cách đơn giản tính tích cực của quan
hệ sản xuất chỉ là vai trò của những hình thức sở hữu, mỗi kiểu quan hệ sản
xuất là một hệ thống một chỉnh thể hữu cơ gồm ba mặt, quan hệ sở hữu, quan
hệ quản lý và quan hệ phân phối. Chỉ trong chỉnh thểđó, quan hệ sản xuất mới
trở thành động lực thúc đẩy con người hành động nhằm phát triển sản xuất.
* Qui luật về sự phù hợp của quan hệ sản xuất với tính chất và trình
độ phát triển của lực lượng sản xuất:
Mối quan hệ biện chứng giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất
làm hình thành quy luật quan hệ sản xuất phải phù hợp với tính chất và trình
độ phát triển của lực lượng sản xuất.
8
Vậy thế nào là phù hợp : Có thể khái quát ở một số nội dung chủ yếu
sau đây:
Thứ nhất, cả ba mặt của quan hệ sản xuất phải thích ứng với tính
chất, trình độ phát triển của lực lượng sản xuất.
Thứ hai, quan hệ sản xuất phải tạo được điều kiện sử dụng và kết hợp
tối ưu giữa tư liệu sản xuất và sức lao động, bảo đảm thực hiện tái sản xuất
mở rộng.
Thứ ba, mở ra những điều kiện thích hợp cho việc kích thích vật
chất, tinh thần đối với người lao động.
Lịch sử xã hội loài người với các phương thức sản xuất kế tiếp nhau
đã chứng minh quy luật kinh tếđó chi phối lịch sử phát triển của các phương
thức sản xuất, đồng thời cũng trực tiếp tác động tới sự vận động của mỗi
phương thức sản xuất.
Thời kìđầu trong lịch sử là xã hội cộng sản nguyên thuỷ với lực
lượng sản xuất thấp kém, đời sống của họ chủ yếu phụ thuộc vào săn bắt hái
lượm, quan hệ sản xuất thơì kì này là quan hệ sản xuất cộng đồng nguyên
thuỷ, con người cùng chung sống, cùng lao động và cùng hưởng thụ thành
quả lao động chung một cách bình đẳng. Xã hội không có người giàu, người
nghèo, không có người sở hữu, không có kẻ làm thuê. Trong quá trình sinh
sống họđã không ngừng cải tiến và thay đổi công cụ (lực lượng sản xuất) đến
sau một thời kỳ lực lượng sản xuất phát triển, của cải từ chỗ chỉđủđáp ứng
nhu cầu cần thiết đã tăng lên đến chỗ dư thừa tất yếu dẫn đến sự tích luỹ, xã
hội bắt đầu có sự phân chia kẻ giàu người nghèo, quan hệ cộng đồng bị phá
vỡ dần dần xuất hiện hệ tư nhân thay thế cho nó. Đó là xã hội chiếm hữu nô
lệ.
Xã hội nô lệ với quan hệ sản xuất chiếm hữu nô lệ ra đời bằng những
hình thức lao động tập trung, khổ sai, thích ứng với trình độ của lực lượng sản
xuất lúc ấy, chếđộ chiếm hữu nô lệđãđạt được những kỳ tích to lớn trong lịch
sử văn minh nhân loại.
9
Kế tiếp đó quan hệ sản xuất phong kiến ra đời, người nô lệ lao động
khổ sai trong xã hội nô lệđược thay thế bằng người nông nô. Sức lao động của
nô lệđược giải phóng khỏi xiềng xích của trật tự xã hội nô lệ, lực lượng sản
xuất có những bước tiến đáng kể. Sau đó bản thân quan hệ sản xuất phong
kiến cũng không thích ứng được với lực lượng sản xuất hiện có, nó trở thành
xiềng xích trói buộc lực lượng sản xuất xã hội, đặc biệt là với phương thức
sản xuất tư bản chủ nghĩa hình thành tự phát trong lòng xã hội phong kiến.
Xung đột này dẫn đến sự ra đời của quan hệ sản xuất tư bản chủ nghĩa thay
thế quan hệ sản xuất phong kiến.
Quan hệ sản xuất tư bản chủ nghĩa ra đời góp phần giải phóng sức
lao động của người nông dân cá thể. Để tăng cường bóc lột giá trị thặng dư,
giai cấp tư sản đua nhau mở rộng sản xuất, cải tiến kỹ thuật, ứng dụng nhanh
chóng các thành tựu khoa học kỹ thuật vào tất cả các khâu của nền sản xuất
xã hội. Trong thời kỳ hoàng kim của mình, quan hệ sản xuất tư bản đã tạo ra
những khả năng phát triển mạnh mẽ lực lượng sản xuất, nóđã tạo ra cho nhân
loại một khối lượng của cải vật chất bằng tất cả các xã hội trước đó cộng lại.
Song bản thân tính chất xã hội hoá ngày càng cao của phương thức sản xuất
tư bản chủ nghĩa gắn liền với lao động tập thể của đội ngũ giai cấp công nhân
hùng mạnh, sẽ nảy sinh mâu thuẫn gay gắt với chếđộ chiếm hữu tư nhân tư
bản chủ nghĩa. Mặc dù giai cấp tư bản sử dụng mọi biện pháp nhằm củng cố,
duy trì và bảo vệ chếđộ sở hữu của mình, nhưng tất yếu khách quan, tính chất
xã hội hoá của lực lượng sản xuất sẽ dẫn đến xung đột với quan hệ sản xuất
hiện có của nó. Quan hệ sản xuất tư bản chủ nghĩa sẽ bị thay thế bởi quan hệ
sản xuất mới, tiến bộ, phù hợp với xu thế phát triển của lực lượng sản xuất:
quan hệ sản xuất cộng sản chủ nghĩa mà giai đoạn đầu tiên của nó là chủ
nghĩa xã hội.
Như vậy sự phát triển của lực lượng sản xuất đến một giới hạn nhất
định sẽ bộc lộ mâu thuẫn giữa quan hệ sản xuất với lực lượng sản xuất.
Những quan hệấy từ chỗ là hình thức kinh tế cần thiết để bảo vệ, để phát triển
10
các lực lượng sản xuất thì giờđây trở thành lực lượng kìm hãm sự phát triển
ấy. Nóđòi hỏi phải được thay đổi cho phù hợp (tạo ra hình thức mới). Sự thay
đổi quan hệấy không phải một cách tự nhiên mà bao giờ cũng được thực hiện
thông qua một cơ chế về mặt pháp luật, chính trị. Nóđược thực hiện thông qua
những cuộc cải cách kinh tế, cách mạng, chính trị, pháp luật kinh tế .
2. Vận dụng nguyên lí triết học để giải quyết vấn đề:
a) Thực trạng:
* Các quan hệ sản xuất và lực lượng sản xuất của Việt Nam trong
lịch sử.
Không nằm ngoài quy luật về mối quan hệ giữa quan hệ sản xuất và
lực lượng sản xuất, Việt Nam đã trải qua trên 4000 năm lịch sử với nhiều
phương thức sản xuất khác nhau trong đó cơ bản nhất và chủ yếu nhất là
phương thức sản xuất phong kiến. Tiếp đó, sau hơn 80 năm đô hộ của bọn
thực dân, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam và lãnh tụ Hồ Chí
Minh, chúng ta đã xây dựng một đất nước Việt Nam độc lập, tự do, tiến thẳng
lên chủ nghĩa xã hội, bỏ qua giai đoạn tư bản chủ nghĩa.
* Việt Nam trong thời kìđầu đi lên chủ nghĩa xã hội.
Sau 30/4/1975 nước ta hoàn toàn giải phóng, chúng ta đãđạt được
nhiều thành tựu trong việc hàn gắn vết thưng chién tranh. Tuy nhiên nền kinh
tế nước ta vẫn là nền kinh tế nông nghiệp kém phát triển mang nặng tính tự
cấp, tự túc. Trang bị kỹ thuật và kết cấu xã hội yếu kém, cơ cấu kinh tế mất
cân đối, cơ cấu kinh tế tập trung quan liêu bao cấp để lại nhiều hậu quả nặng
nề. Nền kinh tế kém hiệu quả, năng suất lao động thấp, khủng hoảnh kinh tế
kéo dài, các tệ nạn tham nhũng lan rộng. Đảng cộng sản còn non, đội ngũ
cán bộ còn yếu về năng lực, các thế lực đế quốc và phản động ráo riết thực
hiện chiến lược diễn biến hoà bình, phá hoại và bao vây kinh tế. Nếp sống văn
hoá, đạo đức bị xói mòn, lòng tin vào Đảng và nhà nước bị giảm sút.
Thực trạng trên có nguồn gốc sâu xa do lịch sửđể lại và hậu quả của
nhiều năm chiến tranh, song chủ yếu là chúng ta đã vi phạm sai lầm chủ quan
11
duy ý chí, vi phạm các quy luật khách quan trong cải tạo xã hội chủ nghĩa,
trong tién hành công nghiệp hoá và trong cơ chế quản lý kinh tếđặc biệt là
không có sự phù hợp giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất. Chúng ta
đã quên mất điều cơ bản là nước ta quáđộđi lên chủ nghĩa xã hội từ một xã
hội tiền tư bản chủ nghĩa. Chúng ta đã thiết lập chếđộ công hữu thuần nhất
giữa hai hình thức sở hữu toàn dân và tập thể. Đồng nhất chếđộ công hữu với
chủ nghĩa xã hội lẫn lộn đồng nhất giữa hợp tác hoá và tập thể hoá. Chúng ta
đã ra sức vận động gần như cưỡng bức nông dân đi vào hợp tác xã, mở rộng
phát triển quy mô nông trường quốc doanh, các nhà máy, xí nghiệp lớn mà
không tính đến trình độ lực lượng sản xuất đang còn thời kỳ quá thấp kém.
Chúng ta đã tạo ra những quy mô lớn và ngộ nhận làđã có “quan hệ sản xuất
xã hội chủ nghĩa” và còn nói rằng: mỗi bước cải tạo quan hệ sản xuất cũ, xây
dựng quan hệ sản xuất mới đều thúc đẩy sự ra đời và lớn mạnh của lực lượng
sản xuất mới. Quan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa có khả năng “vượt trước”
“mởđường” cho sự phát triển của lực lượng sản xuất. Thực tế nhiều năm qua
đã chứng minh quan điểm đó là sai lầm bởi quan hệ sản xuất bị thúc đẩy lên
quá cao, quá xa một cách giả tạo đã làm cho nó tách rời với trình độ thấp kém
của lực lượng sản xuất.
Phải thấy rằng quan hệ sở hữu thể hiện trong việc xoá bỏ tất cả
chếđộ tư hữu, thiết lập công hữu về tư liệu sản xuất không phải chỉ thời gian
ngắn là xong. Nhưng dẫu có làm được thì cũng không phải là mục tiêu trước
mắt của nước ta khi mà chếđộ công hữu này chưa thể phù hợp với lực lượng
sản xuất hiện có. Chúng ta đều biết, khi nghiên cứu xã hội tư bản, C.Mac và
Ph.Ăng-ghen đã phát hiện ra mâu thuẫn giữa tính chất xã hội hoá của sản xuất
với chếđộ chiếm hữu tư nhân tư bản chủ nghĩa. Mâu thuẫn đó là cơ sở sâu xa
làm nảy sinh các mâu thuẫn khác và quy định sự vận động phát triển của xã
hội tư bản. Từđó các ông đi đến dự báo về sự thay thế chếđộ chiếm hữu tư
nhân tư bản chủ nghĩa bằng chếđộ công hữu. Việc thay thếấy, theo quan điểm
của các ông, không thể tiến hành ngay một lúc, mà phải là một quá trình lâu
12
dài. Tuy nhiên lúc đó các ông vẫn chưa chỉ ra mô hình cụ thể về chếđộ công
hữu. Sau đó, khi vận dụng một cách sáng tạo tư tưởng của C.Mac vàĂng-
ghen vào điều kiện cụ thể của nước Nga, V.I.Lenin cũng khẳng định con
đường tiến lên chủ nghĩa xã hội đối với các nước lạc hậu chưa qua tư bản phải
trải qua nhiều khâu trung gian, nhiều bước quáđộ khác nhau. Ông đã cực lực
phê phán những tư tưởng nóng vội muốn xác lập ngay chếđộ công hữu, khi
mà những thành phần kinh tế khác vẫn còn nhiều khả năng góp phần làm cho
sản xuất phát triển. Chúng ta phải thừa nhận một trong những sai lầm cơ bản
mà chúng ta đã vấp phải là xoá bỏ quá sớm quan hệ sản xuất tư bản chủ nghĩa
khi nền kinh tế xã hội chủ nghĩa của chúng ta còn chưa đủ sức thay thế. Điều
đóảnh hưởng không tốt đến sự phát triển của lực lượng sản xuất vàđã làm mất
một khả năng tạo ra sản phẩm dồi dào cho xã hội. Cũng vậy, chúng ta xoá
sạch tiểu thương khi hệ thống thương nghiệp quốc doanh và hợp tác xã mua
bán của ta chưa làm nổi vai trò “người nội trợ cho xã hội ” gây nhiều khó
khăn ách tắc cho lưu thông hàng hoá và không đáp ứng nhu cầu thiết yếu cho
nhân dân.
* Việt Nam chuyển đổi sang cơ chế kinh tế mới.
Trước tình hình trên, đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI đãđặt ra vấn
đề cấp thiết là phải tiến hành công cuộc đổi mới kinh tế: "phải kết hợp chặt
chẽ ngay từđầu đổi mới kinh tế với đổi mới chính trị, lấy đổi mới kinh tế làm
trọng tâm, đồng thời từng bước đổi mới chính trị" [V.I.Lenin Toàn tập, tập 2].
Chính nhờđường lối đổi mới và lựa chọn các bước đi thích hợp mà
nước ta đã từng bước thoát khỏi khủng hoảng kinh tế vàđứng vững trước sự
sụp đổ của hệ thống xã hội chủ nghĩa thế giới. Công cuộc đổi mới đề ra cho
chúng ta nhiệm vụ phải xem xét lại phương thức và con đường đưa đất nước
ta tiến lên. Sai lầm của ta làđãđẩy nhiều mặt của quan hệ sản xuất lên quá cao,
tách rời tình trạng còn thấp kém của lực lượng sản xuất làm cho hai nhân tố
này mâu thuẫn với nhau dẫn đến kìm hãm sự phát triển của sản xuất xã hội.
Đại hội Đảng lần thứ VI đã nhận ra sai lầm và cũng đã thấy rằng việc cải tạo
13
quan hệ sản xuất xã hội là cần thiết nhưng không thể tiến hành một cách chủ
quan nóng vội như trước đây, nghĩa là phải cải tạo và củng cố quan hệ sản
xuất nhưng gắn liền với sự phát triển của lực lượng sản xuất. Đại hội VII của
Đảng cũng chỉ rõ:" phù hợp với sự phát triển của lực lượng sản xuất, thiết
lập từng bước quan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa từ thấp đến cao với sựđa
dạng về hình thức sở hữu. Phát triển nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần
theo định hướng xã hội chủ nghĩa, vận hành theo cơ chế thị trường có sự quản
lý của Nhà nước" [Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quáđộ lên chủ
nghĩa xã hội_ Nhà xuất bản Sự thật_ Hà Nội_ năm 1991_trang 9-10]
Cải tạo và củng cố quan hệ sản xuất nhưng bao giờ cũng phải gắn
liền với sự phát triển của lực lượng sản xuất, vàđược đảm bảo bằng sự phát
triển của lực lượng sản xuất. Đó làđiều kiện cơ bản cho cuộc cách mạng quan
hệ sản xuất phát triển vững chắc. Với trình độ của mình lực lượng sản xuất
yêu cầu phải có những quan hệ sản xuất phù hợp với nó mới có thể bộc lộ hết
khả năng của mình và mới có khả năng phát triển nhanh chóng. Tương ứng
với mỗi trình độ lực lượng sản xuất đòi hỏi một quan hệ sản xuất, một thành
phần kinh tế nhất định như Ph.Ăng-ghen viết :" giai cấp Tư sản không thể
biến những tư liệu sản xuất có tính chất hạn chếấy thành những lực lượng sản
xuất mạnh mẽđược nếu không biến những tư liệu sản xuất của cá nhân thành
những tư liệu sản xuất có tính chất xã hội, mà chỉ một sốđông người cùng làm
mới có thể sư dụng được" [Ph.Ang-ghen Chống đuy rinh_ nhà xuất bản Sự
thật_ Hà Nội_ năm 1971_trang 455]. Kết hợp từng ưu thế riêng của từng
thành phần kinh tế thông qua phân cônglao động xã hội là con đường hiệu quả
nhất để phát triển lực lượng sản xuất, qua đây ta cũng thấy rõ vấn đề cơ bản là
làm thế nào để quan hệ sản xuất phù hợp với tính chất, trình độ phát triển của
lực lượng sản xuất.
Việc phát triển kinh tế hàng hoá nhiều thành phần ở nước ta luôn luôn
được tiến hành đồng thời với việc không ngừng đổi mới và hoàn thiện cơ chế
quản lý kinh tế nhằm bảo đảm cho sư phát triển đó không xa rời định hướng
14

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét