Thứ Tư, 12 tháng 2, 2014

Một số biện pháp chủ yếu để nâng cao chất lượng thẩm định dự án tại Cục đầu tư phát triển Hà Nội

liên doanh, liên kết, thu hút vốn trong nớc và vốn nớc ngoài. Do đó chính phủ đã
tập trung hơn nguồn vốn của ngân sách Nhà nớc cho phát triển hạ tầng kinh tế - xã
hội. Đầu t của khu vực t nhân đợc hình thành và hoạt động có hiệu quả phần lớn ở
quy mô vừa và nhỏ nhng cũng có một số doanh nghiệp t nhân có quy mô lớn, thu
hút nhiều lao động. Bộ mặt nền kinh tế đã thay đổi một cách cơ bản và phát triển
theo chiều hớng tích cực về mọi mặt. Tình hình huy động vốn đầu t và mức đầu t
trong những năm qua đợc thể hiện qua biểu sau:
Biểu 1: Đầu t và tiết kiệm ở Việt Nam trong thời gian qua
Năm 1994 1995 1996 1997 1998
Đầu t/GDP (%) 25.5 27.3 27.9 27.6 23.6
Tiết kiệm/GDP(%) 16.9 17.0 16.7 20.1 17.0
Qua số liệu trên cho thấy rằng nền kinh tế nớc ta đã đạt đợc những kết quả
nhất định trong việc thúc đẩy các hoạt động đầu t, huy động nguồn vốn đầu t cho
tăng trởng kinh tế. Đặc biệt trong giai đoạn 1991 - 1995, mức tiết kiệm và đầu t
trong GDP tăng mạnh, tốc độ tăng trởng thời kỳ này tơng đối cao và ổn định. Năm
1995 có tỉ lệ đầu t/ GDP là 27,3%, tiết kiệm/ GDP là 17,0% và đạt tốc độ tăng tr-
ởng cao nhất trong suốt thời kỳ qua là 12,7%, tỉ lệ lạm phát dới hai con số là
9,5%.Tuy nhiên nếu xét toàn cảnh nền kinh tế và so sánh tình hình đầu t của nớc
ta với các nớc trong khu vực ta thấy rằng mức tích luỹ và đầu t của Việt Nam còn
rất thấp. Tích luỹ của nền kinh tế hạn hẹp, mức tiết kiệm (% trên GDP) gần nh
không tăng và chịu lệ thuộc một phần vào lợng kiều hối bên ngoài. Tốc độ vốn đầu
t bình quân hàng năm tăng nhanh từ 7,8% ở thời kỳ 1986 - 1990 lên 28,3% thời kỳ
1991 - 1995 đã giảm còn khoảng 15% suốt hai năm 1996 - 1997 và năm 1998 vẫn
tiếp tục xu hớng giảm. Thực tế đã cho thấy vốn đầu t cho phát triển kinh tế ở Việt
Nam tuy đã có những kết quả ban đầu nhng vẫn còn là một lĩnh vực nóng bỏng và
là một thách thức lâu dài đối với quá trình phát triển của Việt Nam. Do đó cần
phải có những chính sách thúc đẩy đầu t phù hợp để tăng cờng việc phát huy mọi
tiềm năng về vốn của các thành phần kinh tế trong và ngoài nớc nhằm phục vụ cho
sự nghiệp phát triển kinh tế ở Việt Nam trong thời kỳ mới.
3.2- Dự án đầu t tác động đến quan hệ cung cầu về sản phẩm và dịch vụ trên
thị trờng, cân đối giữa sản xuất và tiêu dùng trong xã hội.
5
Theo quy luật của kinh tế thị trờng vận động có sự quản lý vĩ mô của Nhà n-
ớc, các dự án đầu t sẽ cung cấp nhiều sản phẩm và dịch vụ với nhãn hiệu mới, kiểu
cách mới, chất lợng và giá thành hợp lý, đáp ứng đòi hỏi ngày càng cao của ngời
tiêu dùng. Đây là hệ quả tất yếu của việc huy động tiềm năng về vốn đầu t, việc
tăng năng lực sản xuất và dịch vụ để kích thích sản xuất phát triển, tạo thêm nhiều
công ăn việc làm, nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của nguời lao động
3.3- Dự án đầu t là phơng tiện để chuyển dịch và phát triển cơ cấu kinh tế
Các dự án đầu t đặc biệt là các dự án đầu t mới có vai trò to lớn trong việc
chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hớng công nghiệp hoá - hiện đại hoá đất nớc. Dự
án đầu t có tác dụng giải quyết những mất cân đối về phát triển giữa các vùng lãnh
thổ, khai thác các thế mạnh về nguồn lực và điều kiện tự nhiên sinh thái của từng
vùng. Một cơ cấu đầu t hợp lý và các chính sách u đãi tơng ứng sẽ giúp các vùng
kinh tế kém phát triển thoát khỏi đói nghèo, giảm khoảng cách so với những vùng
có mức phát triển cao của cả nớc.
Trong Chiến lợc ổn định và phát triển kinh tế - xã hội đến năm 2000 đã
khẳng định vai trò của hoạt động đầu t nh sau: Quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh
tế đợc thực hiện thông qua hoạt động đầu t và sản xuất kinh doanh của mọi thành
phần kinh tế dới tác động của cơ chế thị trờng đợc Nhà nớc hớng dẫn và thúc đẩy
bằng chơng trình đầu t dựa vào nguồn vốn tập trung
3.4- Dự án đầu t tác động đến tăng cờng khả năng khoa học và công nghệ
Theo đánh giá của các chuyên gia công nghệ thì trình độ công nghệ của
Việt Nam nói chung hiện nay là rất thấp, công nghệ Việt Nam đang lạc hậu so với
các nớc phát triển khoảng 50 - 100 năm. Trong các ngành công nghiệp, hệ thống
máy móc, thiết bị hiện tại lạc hậu từ 2 - 4 thế hệ so với thế giới và đợc hình thành
chắp vá từ nhiều nguồn. Các chỉ tiêu chủ yếu nh mức tiêu hao nhiên liệu, vật liệu
thờng lớn gấp 1,5 -2 lần so với mức chung của thế giới. Giá thành sản phẩm cao,
do nhiều yếu tố, nhng trớc hết là do công nghệ sử dụng lạc hậu dẫn đến giá trị của
sản phẩm thấp, khó có khả năng cạnh tranh trên thị trờng trong và ngoài nớc. Cũng
do sự bất cập của công nghệ nên năng suất lao động rất thấp, tỉ lệ sản phẩm hỏng
cao (năng suất lao động công nghiệp chỉ đạt 30% mức trung bình của thế giới).
Trình độ công nghệ thấp cũng dẫn đến tình trạng ô nhiễm môi trờng do bản thân
6
công nghệ và do sản phẩm mà nó tạo ra, vì thế chi phí không chỉ của riêng doanh
nghiệp mà của xã hội phải bỏ ra để khắc phục ô nhiễm môi trờng là lớn.
Việt Nam đang trong tiến trình công nghiệp hoá - hiện đại hoá đất nớc, các
hoạt động đầu t diễn ra sôi động, số lợng các dự án ngày càng nhiều, yêu cầu của
ngời tiêu dùng cũng ngày một cao hơn. Để đảm bảo tính khả thi của các dự án đầu
t cần thiết phải đảm bảo đầu t các trang thiết bị công nghệ thích hợp, sản phẩm của
dự án phải đáp ứng đợc các yêu cầu về kỹ, mĩ thuật, chất lợng và cạnh tranh đợc
trên thị trờng. Việt Nam cần phải có chính sách công nghệ và định hớng công
nghệ trong thời gian tới để tăng cờng trình độ công nghệ của mình và đáp ứng đợc
đòi hỏi của tình hình đầu t trong thời kỳ mới.
4) Chu trình của dự án đầu t
Dự án đầu t đợc xây dựng và phát triển trong một quá trình gồm nhiều giai
đoạn riêng biệt song gắn bó chặt chẽ với nhau và đi theo một tiến trình lôgic đợc
gọi là chu trình dự án.Có nhiều cách phân chia chu trình dự án nhng ở đây để tiện
cho việc phân tích, ta phân chia thành 5 giai đoạn là: xây dựng dự án, thực hiện dự
án, vận hành dự án, đánh giá sau thực hiện dự án và kết thúc dự án.
4.1. Giai đoạn xây dựng dự án
4.1.1 - Nghiên cứu cơ hội đầu t
Nghiên cứu cơ hội đầu t là giai đoạn đầu tiên trong chu trình dự án. Đây là
những ý tởng ban đầu đợc hình thành trên cơ sở phát hiện những lĩnh vực có nhiều
tiềm năng để đầu t, từ đó hình thành sơ bộ các ý đồ đầu t. Trên thực tế, ý đồ về
một dự án mới có thể xuất phát từ các nguồn sau:
-Từ chiến lợc phát triển ngành hay chiến lợc phát triển kinh tế quốc dân
-Thông qua việc phát hiện các nguồn tài nguyên, nhân lực, vật liệu cha đợc khai
thác và sử dụng có hiệu quả.
-Dự án có thể đợc đề xuất để đáp ứng nhu cầu sản xuất, tiêu dùng ở thị trờng
trong nớc và nớc ngoài còn cha đợc thoả mãn.
-ý đồ của dự án có thể nảy sinh từ yêu cầu khắc phục những khó khăn và trở
ngại đối với sự phát triển kinh tế - xã hội do thiếu các điều kiện vật chất cần thiết.
7
Trên cở sở các ý đồ đầu t khác nhau đợc hình thành và đề xuất, cần tiến
hành nghiên cứu chi tiết hoá, lựa chọn ra những ý đồ dự án có triển vọng nhất (ph-
ơng án tối u) để tiến hành chuẩn bị và phân tích trong giai đoạn tiếp theo. Việc xác
định và sàng lọc các ý đồ dự án có ảnh hởng quyết định đến quá trình chuẩn bị và
thực hiện dự án sau này.
4.1.2 - Nghiên cứu tiền khả thi
Khi xác định sơ bộ đợc ý đồ, mục tiêu, phơng tiện của dự án, ta có thể tiến
hành nghiên cứu sơ bộ về các yếu tố cơ bản của dự án nh: Quy mô, công nghệ,
công suất thiết kế, thiết bị, nhu cầu về vốn cũng nh tổ chức thực hiện dự án. Trong
giai đoạn này ngời ta cũng xác định các chỉ tiêu cơ bản đánh giá hiệu quả dự án để
làm cơ sở cho việc xem xét, lựa chọn dự án.
Kết quả nghiên cứu tiền khả thi là cơ sở cho việc quyết định tiếp tục hoặc
chấm dứt việc nghiên cứu dự án ở bớc tiếp theo.
4.1.3 - Nghiên cứu khả thi
Nghiên cứu khả thi dự án đầu t là giai đoạn nghiên cứu chi tiết và toàn diện
các yếu tố của dự án trên mọi phơng diện: Kỹ thuật, tổ chức quản lý, thể chế xã
hội, thơng mại, tài chính, kinh tế. Để thực hiện nhiệm vụ này phải thu thập đầy đủ
những thông tin cần thiết cho việc nghiên cứu về thị trờng, môi trờng tự nhiên, các
nguồn nguyên vật liệu, các chính sách có liên quan của chính phủ, các đặc điểm
kinh tế - văn hoá - xã hội của dân c trong vùng.
Nghiên cứu khả thi còn đợc gọi là lập luận chứng kinh tế kỹ thuật, là bớc
nghiên cứu dự án đầy đủ nhất, có nhiệm vụ tạo cơ sở để chấp thuận hay bác bỏ dự
án cũng nh để xác định một phơng án tốt nhất trong số các phong án còn lại.
Nghiên cứu khả thi đúng nh tên gọi của nó, nhằm chứng minh khả năng thực hiện
của dự án về tất cả mọi phơng diện có liên quan. Chuẩn bị tốt và kỹ lỡng quá trình
này sẽ làm giảm những khó khăn trong giai đoạn thực hiện dự án cũng nh cho
phép đánh giá đúng đắn hơn tính hiệu quả và khả năng thành công của dự án.
4.1.4 - Thông qua dự án (duyệt và thẩm định dự án)
Giai đoạn này thờng đợc thực hiện với sự tham gia của các cơ quan Nhà nớc,
các tổ chức tài chính và các thành phần tham gia dự án nhằm xác minh lại toàn bộ
8
những kết luận đã đợc đa ra trong quá trình chuẩn bị và phân tích dự án, trên cơ sở
đó thông qua hay bác bỏ dự án. Dự án sẽ đợc thông qua và đa vào thực hiện nếu
nó đợc chứng minh là có tính khả thi. Ngợc lại trong trờng hợp còn có những bất
hợp lý trong thiết kế dự án thì tuỳ theo mức độ, dự án có thể đợc yêu cầu sửa đổi
hay buộc phải xây dựng lại hoàn toàn.
4.2. Giai đoạn thực hiện dự án
Thực hiện dự án là giai đoạn triển khai thực hiện dự án. Giai đoạn này bao
gồm một loạt các quá trình kế tiếp hoặc xen kẽ nhau từ khi thiết kế đến khi đa dự
án vào vận hành khai thác.
Thực hiện dự án là kết quả của một quá trình chuẩn bị và phân tích kỹ lỡng.
Song trong thực tế rất ít khi dự án đợc tiến hành hoàn toàn đúng nh hoạch định.
Nhiều dự án đã không đảm bảo đợc tiến độ thời gian và chi phí dự kiến, thậm chí
một số dự án đã phải thay đổi thiết kế ban đầu do giải pháp kỹ thuật không thích
hợp hay do thiếu vốn Nói chung những rủi ro buộc hoạt động đầu t khó thực
hiện theo nh kế hoạch là các khó khăn về tài chính, các hạn chế về mặt quản lý,
các vấn đề kỹ thuật phát sinh thờng xuyên trong quá trình thực hiện dự án và do
các biến động chính trị tác động không tốt đến quá trình triển khai dự án.
4.3. Giai đoạn vận hành dự án đầu t
Giai đoạn vận hành dự án đầu t đợc xác định từ khi chính thức đa dự án vào
vận hành, khai thác cho đến khi kết thúc dự án. Đây là giai đoạn thực hiện các
hoạt động theo chức năng của dự án và quản lý các hoạt động đó theo kế hoạch đã
dự tính. Giai đoạn vận hành dự án có thể tiến hành ngay cả trong giai đoạn thực
hiện. Có thể chia giai đoạn thực hiện dự án thành những thời kỳ nhỏ hơn, chẳng
hạn, thời kỳ thứ nhất là thi công xây dựng các công trình cơ sở, sau khi hoàn thành
XDCB dự án chuyển sang thời kỳ phát triển. Trong thời kỳ này, dự án bắt đầu sinh
lợi và trả dần những khoản nợ trong thời kỳ đầu. Thời kỳ thứ ba bắt đầu khi dự án
đạt tới sự phát triển toàn bộ, nói cách khác các công trình đầu t ban đầu đã sử dụng
hết công suất và kéo dài tới khi dự án chấm dứt hoạt động.
4.4. Giai đoạn đánh giá sau thực hiện dự án
Đánh giá sau thực hiện dự án thực chất là việc phân tích đánh giá các chỉ
tiêu kinh tế - kỹ thuật của dự án trong giai đoạn vận hành, khai thác. Việc đánh giá
9
này nhằm hiệu chỉnh các thông số kinh tế - kỹ thuật đảm bảo mức đã đợc dự kiến
trong nghiên cứu khả thi trên cơ sở phát hiện và tìm biện pháp đảm bảo các thông
số vận hành của dự án. Đồng thời tìm kiếm các cơ hội phát triển, mở rộng hoặc
điều chỉnh các yếu tố của dự án cho phù hợp với tình hình thực tế để đảm bảo hiệu
quả của dự án. Dựa vào các kết quả phân tích, các cơ quan có thẩm quyền đánh
giá quá trình vận hành, khai thác dự án để có quyết định đúng đắn về sự cần thiết
kéo dài hoặc chấm dứt thời hạn hoạt động của dự án.
4.5 Giai đoạn kết thúc dự án
Đây là giai đoạn tiến hành các công việc cần thiết để chấm dứt hoạt động
của dự án (thanh toán công nợ, thanh lý tài sản và hoàn thành các thủ tục khác)
Quá trình nghiên cứu, soạn thảo một dự án đầu t đợc thực hiện theo từng
giai đoạn rất cẩn thận nhng không thể tránh khỏi những sai sót nhất định. Do đó,
chúng ta cần phải có một quy trình thẩm định dự án thích hợp nhằm phát hiện ra
những sai sót để có biện pháp khắc phục, đảm bảo tính khả thi của dự án.
10
Biểu 3: Chu trình phát triển của một dự án đầu t
1.
II) Thẩm định dự án đầu t
1) Khái niệm thẩm định dự án
Mỗi một hoạt động đầu t đều có rất nhiều đặc điểm và sự phức tạp về mặt kỹ
thuật lại chịu ảnh hởng của nhiều yếu tố bất định. Do vậy trớc khi quyết định hoặc
chấp thuận việc thực hiện một dự án, cấp có thẩm quyền cần phải đánh giá toàn
diện nội dung dự án xem dự án có thực sự có lợi nhuận không, có đáp ứng đợc các
mục tiêu phát triển chung của quốc gia hay không. Nếu có thì bằng cách nào và
11
Giai đoạn 1
Xây dựng dự án
Nghiên cứu
cơ hội đầu t
Nghiên cứu
tiền khả thi
Nghiên cứu
khả thi
Thẩm định dự
án đầu t
Giai đoạn 2: Thực hiện
dự án
Thiết kế kỹ
thuật
Kí kết hợp
đồng, đấu thầu
Đào tạo CB -CNV
kỹ thuật, quản lý
Chạy thử,
nghiệm thu
Giai đoạn3: Vận hành
khai thác dự án
Giai đoạn 4: Đánh giá
sau thực hiện dự án
Giai đoạn 5: Kết thúc
dự án
đến mức độ nào. quá trình xem xét đánh giá dự án nhằm đạt đợc các mục tiêu nói
trên đợc gọi là thẩm định dự án đầu t.
Ta hãy xem xét hai cách khái niệm sau:
Thẩm định dự án đầu t là việc tổ chức xem xét một cách khách quan, có
khoa học và toàn diện các nội dung cơ bản ảnh hởng trực tiếp tới tính khả thi của
dự án, từ đó ra quyết định đầu t và cho phép đầu t.
Thẩm định dự án đầu t là hoạt động chuẩn bị dự án, đợc thực hiện bằng kỹ
thuật phân tích dự án đã đợc thiết lập để ra quyết định đầu t, thoả mãn các yêu cầu
thẩm định của Nhà nớc.
Nh vậy, thẩm định dự án là khâu nằm trong quá trình chuẩn bị dự án nhng
tách biệt với khâu soạn thảo dự án. Thực chất của việc thẩm định dự án là kiểm tra
đánh giá toàn diện nội dung của dự án trên cơ sở các tiêu chuẩn, quyết định, định
mức của cơ quan quản lý Nhà nớc, các tiêu chuẩn và thông lệ quốc tế. Từ đó có
các kết luận về tính khả thi của dự án để làm cơ sở cho các cơ quan có thẩm quyền
của Nhà nớc ra quyết định đầu t và cho phép đầu t.
2) Sự cần thiết phải thẩm định dự án
Hiện nay, đang có nhiều vấn đề đặt ra trong việc lập và quản lý dự án lớn,
đây là một bài toán tổng thể phức tạp nhng cần thiết phải giải quyết. Trong sự phát
triển tiếp theo của quản lý các dự án ở thập niên 70, sau cuộc khủng hoảng dầu mỏ
nổi lên hai đặc điểm: Một là số lợng cũng nh mức độ các rủi ro về kinh tế (nguồn
nguyên liệu cạn kiệt, khan hiếm ) xã hội (thất nghiệp gia tăng, lạm phát cao )
chính trị (không ổn định ) đã đa vào dự án các mô hình xác suất thống kê cho
phép tính đến độ bất định của các dữ kiện. Hai là cùng với sự phát triển nhanh
chóng của công nghệ tin học (máy tính điện tử và các phần mềm tơng ứng) ngời ta
đã tiến hành mô phỏng để so sánh nhiều phơng án khác nhau (làm nhiều tính toán
đơn giản thay vì một tính toán duy nhất nhng phức tạp nh trớc đây). Giai đoạn thập
niên 80 đánh dấu bằng sự hình thành ngày càng nhiều các dự án kinh tế vi mô và
các dự án khu vực với sự tham gia cùng một lúc của nhiều quốc gia trong đó có dự
án liên kết giữa các nớc công nghiệp phát triển. Cuối cùng trong việc lập, phân
tích, quản lý dự án những năm gần đây nổi lên một số vấn đề mới nh làm thế nào
để nâng cao chất lợng các dự án mang tính chất nghiên cứu phát triển, chú trọng
12
đến các vấn đề định tính nh: đặc điểm văn hoá, ảnh hởng môi trờng sinh thái, giải
quyết công ăn việc làm
Ngày nay cùng với sự phát triển mạnh mẽ của các quốc gia là các công cuộc
đầu t có quy mô ngày càng lớn và tính đa dạng cao. Cạnh tranh trên thị trờng trở
nên gay gắt, khoảng thời gian mà mỗi sản phẩm trụ đợc trên thị trờng ngày một
ngắn. Vì vậy việc hình thành ý tởng dự án, lập dự án cũng nh quản lý tốt dự án trở
thành một vấn đề hết sức bức thiết.
Mỗi doanh nghiệp thờng phải tiến hành một lúc nhiều dự án liên quan, phụ
thuộc lẫn nhau (dự án sản phẩm mới thờng đi liền với nhu cầu thay đổi cơ cấu tổ
chức, tin học hoá doanh nghiệp ) số lợng dự án nhiều, quy mô dự án cũng lớn lên
và phức tạp hơn do sự phát triển của kỹ thuật và công nghệ, nhiều dự án đòi hỏi
phải có chuyên gia thuộc nhiều lĩnh vực khác nhau cùng tham gia. Trong khi đó
các dự án phải đứng trớc những hạn chế về kinh tế nh nguồn lực có hạn, những
vấn đề về môi trờng sinh thái, yêu cầu ngày càng cao của khách hàng Những đòi
hỏi ngày càng nghiêm khắc đó của thực tế buộc các nhà đầu t phải quan tâm đến
việc nghiên cứu tổ chức tối u toàn bộ quá trình chuẩn bị dự án và thực hiện dự án.
Đồng thời đòi hỏi các nhà quản lý kinh tế phải có kiến thức, kinh nghiệm, phẩm
chất để đánh giá đúng đắn hiệu quả tài chính, hiệu quả kinh tế - xã hội của dự án
để ra quyết định hợp lý về đầu t hay quyết định cho vay, tài trợ cho dự án. Quá
trình các nhà quản lý thực hiện các nhiệm vụ này chính là quá trình thẩm định dự
án đầu t.
Mặt khác, một dự án đầu t cho dù đợc soạn thảo kỹ lỡng đến đâu thì vẫn
mang ý kiến chủ quan của nhà đầu t và sẽ có những sai sót nhất định trong việc
nhìn nhận đánh giá các vấn đề của dự án. Dự án đợc lập thờng không tránh khỏi
tình trạng bỏ sót các yếu tố trong khi tính toán, tình trạng thiếu khách quan thiên
về mục tiêu lợi nhuận mà coi nhẹ lợi ích của xã hội. Ngoài ra do chủ đầu t hạn chế
về nguồn thông tin, trình độ chuyên môn, quản lý cũng nh phân tích tình hình thực
tế của chủ đầu t còn yếu nên dự án đợc lập ra cha chắc đã thực sự khả thi, đáp ứng
đợc đòi hỏi của thị trờng cũng nh các mục tiêu phát triển của xã hội. Công tác
thẩm định dự án nhằm làm rõ tính đúng đắn, hợp lý của dự án trên cơ sở phân tích
một loạt các vấn đề có liên quan đến hiệu quả thực hiện dự án nh mục tiêu của dự
án, thị trờng sản phẩm, kỹ thuật - công nghệ, khả năng tài chính của dự án Nh
13
vậy, thẩm định dự án có một vai trò to lớn đối với chủ đầu t, với Nhà nớc và đối
với các nhà tài trợ trong việc đảm bảo có một dự án thực hiện theo đúng kế hoạch,
thu hồi đủ vốn ban đầu, có lãi và đáp ứng đợc các mục tiêu phát triển kinh tế - xã
hội của đất nớc.
Đối với chủ đầu t, thẩm định dự án nh là một quá trình kiểm tra đánh giá lại
toàn bộ các phơng diện của dự án dới một cái nhìn khách quan hơn. Giả sử rằng,
nếu lấy mục tiêu lợi nhuận tối đa để đi đến quyết định đầu t ta sẽ dễ dàng so sánh
giữa lợi nhuận có thể đạt đợc với chi phí đầu t đã bỏ ra. Tuy nhiên vấn đề không
hoàn toàn đơn giản nếu chúng ta chỉ xem xét một khía cạnh biểu hiện của hoạt
động đầu t là chi phí bỏ ra ở hiện tại nhng lợi nhuận là những khoản tiền nhận đợc
trong tơng lai, thậm chí sau 15 năm hoặc 20 năm. Vấn đề đặt ra là so sánh nh thế
nào giữa chi phí đầu t bỏ ra và lợi nhuận thu đợc? Đây chính là những vấn đề
thuộc luận cứ khoa học của thẩm định dự án. Trên thực tế, sau khi thẩm định một
dự án, bộ phận thẩm định sẽ có ý kiến đánh giá về dự án và có yêu cầu chủ đầu t
hoàn thiện bổ xung thông tin trong trờng hợp dự án có thiếu sót hoặc có ý kiến bác
bỏ đối với những dự án không đáp ứng đợc yêu cầu. Thông qua đó, chủ đầu t sẽ
xác định và lựa chọn đợc phơng án đầu t tốt nhất, rủi ro thấp nhất đồng thời loại bỏ
đợc các phơng án đầu t không hiệu quả.
Công tác thẩm định dự án đầu t không chỉ có ích đối với nhà đầu t mà còn
có ý nghĩa rất quan trọng đối với Nhà nớc. Bởi lẽ, một doanh nghiệp khi có dự án
đầu t sẽ có rất nhiều mục tiêu cụ thể nhng quy tụ lại vẫn là mục tiêu lợi nhuận.
Khả năng sinh lời càng lớn thì càng hấp dẫn doanh nghiệp tham gia đầu t. Vì vậy,
khi lập dự án đầu t, chủ đầu t thờng có khuynh hớng thiên về mục tiêu tạo ra nhiêu
lợi nhuận cho mình mà không quan tâm đúng mức đến các lợi ích xã hội khác.
Trách nhiệm của bộ phận thẩm định dự án là đánh giá dợc tính phù hợp của dự án
đối với quy hoạch phát triển chung của ngành, vùng lãnh thổ và của cả nớc. Đặc
biệt phải xác định đợc phần lợi ích mà dự án đóng góp cho xã hội và phần chi phí
mà xã hội phải bỏ ra để từ đó xem xét khả năng sinh lợi của dự án trên phuơng
diện xã hội. Từ đó có kết luận loại bỏ những dự án không có hiệu quả về mặt kinh
tế - xã hội hoặc hiệu quả thấp. Điều này sẽ đảm bảo các công cuộc đầu t đều đóng
góp vào lợi ích chung của xã hội, hoạt động đầu t đợc tiến hành theo đúng mục
tiêu và định hớng phát triển của đất nớc.
14

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét