Thứ Ba, 18 tháng 2, 2014

Một số vấn đề về đổi mới kế hoạch 5 năm phát triển kinh tế xã hội ở Việt Nam

Đề án môn học KHHPTKT-XH KhoaKH&PT
biết đợc chúng ta đã đi đến đó? Để trả lời mỗi một câu hỏi trên chúng ta phải
tiến hành những công việc cụ thể nh:
- Nhận dạng thực trạng của nền kinh tế : Quá trình nhận dạng thực trạng
phải đợc đánh giá toàn diện và trong một khoảng thời gian dài tơng đơng với
thời kỳ của chiến lợc phát triển sẽ xây dựng. Nó là cơ sở để rút ra kết luận đúng
đắn cho câu hỏi: Chúng ta đang đứng ở đâu?.
- Xây dựng các quan điểm phát triển, đó là những t tởng chủ đạo thể hiện
tính định hớng của các kế hoạch dài hạn. Việc xác định các quan điểm chủ dạo
có ý nghĩa quan trọng trong việc tìm ra các bớc ngoặt của con đờng phát triển ,
nó tạo động lực cơ bản xuyên xuốtquá trình phát triển của đất nớc.
- Xây dựng hệ thống mục tiêu, các mục tiêu chủ yếu là mục tiêu tổng
quát, chủ yếu tập trung vào các vấn đề nâng cao đời sống xã hội của các tầng
lớp dân c, thay đổi bộ mặt đất nớc, tạo thế vững chắc cho đất nớc, phản ánh
những biến đổi quan trọng của nền kinh tế.
- Xây dựng hệ thống chính sách và biện pháp. Đây là thể hiện sự hớng dẫn
về cách thức thực hiện các mục tiêu đề ra. Nó bao gồm các chính sách và biện
pháp về cơ cấu và cơ chế vận hành hwj thống kinh tế xã hội, các chính sách
về bồi dỡng , khai thác, huy động, phân bổ và sử dụng hợp lý cá nguồn lực phát
triển.
1.2 Kế hoạch trung hạn.
Kế hoạch trung hạn là những kế hoạch có khoảng thời gian từ 3 đến 10
năm. ở một số nớc trên thế giới nh nớc Pháp, khi phân chia theo thời gian thì
hình thức duy nhất của kế hoạch là kế hoạch 5 năm, nớc Đức thờng xây dựng kế
hoạch trung hạn 5 năm, ở Malaysia có kế hoạch trung hạn 5 năm, kế hoạch
trung hạn 3 năm, ở Việt Nam kế hoạch trung hạn thờng là kế hoạch 5 năm.
Kế hoạch trung hạn (kế hoạch 5 năm) là sự cụ thể hoá các chiến lợc phát
triển kinh tế xã hội và quy hoạch phát triển trong lộ trình phát triển dài hạn của
đất nớc. Kế hoạch trung hạn xác định các mục tiêu chỉ tiêu tăng trởng kinh tế,
nâng cao phúc lợi xã hội trong thời kỳ kế hoạch và xác định các cân đối, các
Trờng Đại học Kinh tế Quốc dân
5
Đề án môn học KHHPTKT-XH KhoaKH&PT
chính sách phân bổ nguồn lực, vốn cho các chơng trình phát triển của khu vực
kinh tế Nhà nớc và khuyến khích sự phát triển của khu vực kinh tế t nhân.
1.3. Kế hoạch ngắn hạn (kế hoạch năm- kế hoạch tác nghiệp).
Trong hệ thống kế hoạch phát triển thì kế hoạch 5 năm là công cụ chính
sách định hớng còn kế hoạch hàng năm là công cụ thực hiện. Đặc biệt nếu thực
hiện kế hoạch 5 năm theo hình thức cuốn chiếu thì kế hoạch hàng năm thực
chất sẽ là một phần định hớng của kế hoạch 5 năm. Vì vậy, vai trò hay chức
năng đầu tiên của kế hoạch năm là cụ thể hoá kế hoạch 5 năm, phân đoạn kế
hoạch 5 năm để từng bớc thực hiện kế hoạch 5 năm. Quy mô và sự cấu thành
của kế hoạch năm vì thế chủ yếu đơc quyết định bởi ngân sách, các chỉ tiêu kế
hoạch 5 năm, các tiến trình trong nghiên cứu khả thi và những dự án triển khai
trong thời kỳ trớc. Bên cạnh đó kế hoạch năm còn là công cụ để điều chỉnh kế
hoạch 5 năm có tính đến đặc điểm của từng năm. Ngoài ra, kế hoạch hàng năm
còn đóng vai trò độc lập quan trọng, nó có thể bao hàm các nhiệm vụ, các chỉ
tiêu cha đợc dự kiến trong kế hoạch 5 năm, bảo đảm tính linh hoạt, nhạy bén
của kế hoạch hoá nói chung.
2. Kế hoạch 5 năm trong hệ thông kế hoạch hoá phát triển kinh tế-xã hội.
2.1. Khái niệm và nội dung cơ bản của kế hoạch 5 năm.
Kế hoạch 5 năm là sự cụ thể hoá các chiến lợc phát triển kinh tế xã hội và
quy hoạch phát triển trong lộ trình phát triển dài hạn của đất nớc. Kế hoạch 5
năm xác định các mục tiêu chỉ tiêu tăng trởng kinh tế, nâng cao phúc lợi xã hội
trong thời kỳ kế hoạch và xác định các cân đối, các chính sách phân bổ nguồn
lực, vốn cho các chơng trình phát triển của khu vực kinh tế Nhà nớc và khuyến
khích sự phát triển của khu vực kinh tế t nhân. Nội dung chủ yếu của việc lập kế
hoạch 5 năm bao gồm:
- Xác định nhiệm vụ tổng quát và các mục tiêu, chỉ tiêu chủ yếu phát triển
kinh tế xã hội của đất nớc trong giai đoạn 5 năm nh: Mục tiêu tăng trởng
kinh tế, chuyển dịch cơ cấu kinh tế, huy động tiết kiệm, các chỉ tiêu về phúc
lợi xã hội
Trờng Đại học Kinh tế Quốc dân
6
Đề án môn học KHHPTKT-XH KhoaKH&PT
- Xác định các chơng trình và lĩnh vực phát triển . Các vấn đề đợc đa vào ch-
ơng trình và lĩnh vực phát triển có sự lựa chọn, nó thực sự phải là các vấn đề
nổi cộm, trọng yếu cho sự phát triển bền vững của nền kinh tế. Các chơng
trình phát triển chính là cơ sở hoàn thành các nhiệm vụ và mục tiêu phát
triển của kỳ kế hoạch 5 năm.
- Phần xây dựng các giải pháp lớn của kế hoạch 5 năm sẽ bao gồm 2 nội dung
cơ bản: Một là xác định các cân đối vĩ mô chủ yếu: Cân đối vốn đầu t, cân
đỗi xuất nhập khẩu, cán cân thanh toán quốc tế, cân đối sức mua toàn xã hội;
xác định các khả năng thu hút vốn cả trong và ngoài nớc,đồng thời xác định
những quan hệ lớn về phân bổ đầu t giữa các vùng kinh tế, giữa công nghiệp,
nông nghiệp và các lĩnh vực văn hoá, xã hội; xác định các quan hệ cung cầu
một số hàng hoá vật t chủ yếu. Hai là xây dựng, hoàn thiện những vấn đề cơ
chế quản lý, các chính sách kinh tế, về hiệu lực bộ máy quản lý và các vấn
đề tổ chức thực hiện.
Trong hệ thống kế hoạch hoá kế hoạch 5 năm vừa là sự cụ thể hoá các
chiến lợc phát triển kinh tế xã hội và quy hoạch phát triển vừa là công cụ định
hớng cho các kế hoạch hàng năm. Dựa vào hệ thống chỉ tiêu mục tiêu và các
cân đối lớn của kế hoạch 5 năm các kế hoạch hàng năm đợc xây dựng, từ đó
đảm bảo sự thống nhất về mục tiêu của kế hoạch hàng năm với kế hoạch 5 năm
và mục tiêu định hớng của quy hoạch phát triển và chiến lợc phát triển. Từ đó
ta có thể thấy đợc kế hoạch 5 năm là cầu nối giữa chiến lợc phát triển, quy
hoạch phát triển với các kế hoạch hàng năm hay là cầu nối biến các mục tiêu
mang tính định tính cao thành các công việc cụ thể bằng việc theo đuổi mục
tiêu hàng năm mang tính định lợng nhiều hơn.
2.2. Sự cần thiết lựa chọn kế hoạch 5 năm làm kế hoạch trọng tâm
trong hệ thống kế hoạch hoá phát triển kinh tế xã hội.
Nghị quyết Đại hội 9 của Đảng Cộng Sản Việt Nam đã xác định xây dựng
kế hoạch 5 năm trở thành công cụ chủ yếu của hệ thống kế hoạch hoá phát
triển.
Trờng Đại học Kinh tế Quốc dân
7
Đề án môn học KHHPTKT-XH KhoaKH&PT
Trong hệ thống kế hoạch hoá phát triển kinh tế xã hội ta thấy kế hoạch 5
năm (kế hoạch trung hạn) là loại hình kế hoạch có khoảng thời gian nằm giữa
kế hoạch dài hạn (chiến lợc phát triển, quy hoạch phát triển ) và kế hoạch ngắn
hạn(kế hoạch hàng năm). Do vậy khi xét về mặt thời gian thì điều đâu tiên ta
thấy kế hoạch 5 năm đã đảm bảo mối quan hệ giữa kinh tế và chính trị. Do
khoảng thời gian 5 năm vừa đúng bằng một nhiệm kỳ làm việc của cơ quan
chính phủ, là thời hạn mà theo đó lợi tức đầu t bắt đầu có sau 1 năm hoặc một
vài năm, do vậy tạo thuận lợi cho việc tập trung quan điểm lãnh đạo, thuận lợi
cho việc đổi mới và hoàn thiện việc thực hiện các kế hoạch phát triển mới. Khi
một nhiệm kỳ làm việc của chính phủ kết thúc cũng là lúc một kế hoạch 5 năm
kết thúc, do vậy trong quá trình thực hiện kế hoạch phát triển nếu còn tồn tại
những hạn chế hay không đạt đợc những mục tiêu đã đề ra, việc quy kết trách
nhiệm sẽ dễ dàng hơn. Từ đó buộc mỗi cá nhân có trách nhiệm thực hiện mục
tiêu chung một cách tốt nhất, không để xảy ra tình trạng thiếu tinh thần trách
nhiệm trong việc thực hiện nhiệm vụ đợc giao rồi bắt ngời đi sau (nhiệm kỳ
sau) phải giải quyết hậu quả do chính mình gây ra.
Kế hoạch 5 năm là khoảng thời gian đủ ngắn để đảm bảo tính chính xác
của các mục tiêu đề ra. Do sự biến động không ngừng của nền kinh tế, sự phát
triển mạnh mẽ không ngừng của nền sản xuất xã hội cũng nh việc hiện đại hoá
các công cụ dự báo dẫn đển rủi ro cao đối với các chỉ tiêu của các kế hoạch
dài hạn.
Đối với kế hoạch 1 năm thì khoảng thời gian 1 năm không đủ để đánh giá
những phát sinh của chơng trình dự án. Những chơng trình dự án khi hoàn thành
đôi khi cha bộc lộ hiệu quả hay những phát sinh ngay mà phải trải qua một thời
gian đi vào sử dụng do vậy trong vòng một năm không thể nhận biết đợc điều
đó. Trong khi đó kế hoạch 5 năm đủ dài để đánh giá các chính sách giải pháp,
chơng trình dự án và tiến hành sử lý những phát sinh.
Trong quá trình lập kế hoạch thì công việc thu thập, sử lý thông tin đòi hỏi
một thời gian khá dài do vậy kế hoạch hàng năm sẽ gặp rất nhiều khó khăn
Trờng Đại học Kinh tế Quốc dân
8
Đề án môn học KHHPTKT-XH KhoaKH&PT
trong vấn đề đó bởi vì quá trình thu thập, sử lý thông tin sẽ làm ảnh hởng tới
tiến độ thực hiện các hoạt động của kế hoạch đề ra.
Khi nghiên cứu vai trò của kế hoạch 5 năm dới góc độ nội dung ta thấy:
Trớc hết nội dung của kế hoạch 5 năm là sự cụ thể hoá các mục tiêu định hớng,
các tầm nhìn của các chiến lợc phát triển kinh tế xã hội nội dung đợc đề cập
trong kế hoạch 5 năm là các vấn đề đợc lựa chọn, nó thực sự là các vấn đề nổi
cộm, trọng yếu cho sự phát triển bền vững cho sự phát triển của nền kinh tế.
Trong hệ thống chỉ tiêu của mình kế hoạch 5 năm xác định rõ các cân đối vĩ mô
chủ yếu: Cân đối vốn đầu t, cân đỗi xuất nhập khẩu, cán cân thanh toán quốc tế,
cân đối sức mua toàn xã hội; xác định các khả năng thu hút vốn cả trong và
ngoài nớc, đồng thời xác định những quan hệ lớn về phân bổ đầu t giữa các
vùng kinh tế, giữa công nghiệp, nông nghiệp và các lĩnh vực văn hoá, xã hội;
xác định các quan hệ cung cầu một số hàng hoá vật t chủ yếu. Ngoài ra kế
hoạch 5 năm còn xây dựng, hoàn thiện những vấn đề cơ chế quản lý, các chính
sách kinh tế, về hiệu lực bộ máy quản lý và các vấn đề tổ chức thực hiện.
Do vậy khi hệ thống chỉ tiêu và các giải pháp của kế hoạch 5 năm đợc đảm
bảo thì việc xây dựng các kế hoạch hàng năm trở lên dễ dàng hơn và mục tiêu
của các cấp kế hoạch sẽ luôn đợc thống nhất.
Tóm lại vai trò của kế hoạch 5 năm là rất quan trọng và việc đa kế hoạch 5
năm trở thành trọng tâm chủ yếu trong hệ thống kế hoạch hoá phát triển là hoàn
toàn đúng đúng đắn.
II. Những vấn đề về xây dựng và quản lý kế hoạch 5 năm
1. Nội dung các bộ phận cấu thành kế hoạch 5 năm.
Nội dung của một kế hoạch 5 năm phát triển kinh tế xã hội bao gồm :
1.1 Đánh giá thực trạng.
Đánh giá thực trạng ở đây bao gồm: Đánh giá tình hình thực hiện kế hoạch
5 năm của thời kỳ trớc, mức độ hoàn thành các chỉ tiêu đã đề ra của kế hoạch từ
đó rút ra những bài học kinh nghiệm cho kỳ kế hoạch 5 năm sắp tới; Đánh giá
tình hình kinh tế, chính trị, xã hội, cơ sở hạ tầng trong n ớc và ngoài nớc cùng
Trờng Đại học Kinh tế Quốc dân
9
Đề án môn học KHHPTKT-XH KhoaKH&PT
các nhân tố ảnh hởng khác; Đánh giá các nguồn lực làm cơ sở cho quá trình phát
triển tiếp theo.
1.2 Đa ra các đự báo phát triển.
Bằng các công cụ và phơng pháp dự báo, các nhà dự báo đa ra những dự
báo phát triển kinh tế xã hội. Ví dụ nh dự báo về khả năng vốn đầu t; dự báo về
khả năng ngân sách; khả năng nguồn lao động
1.3 Xác định các quan điểm, mục tiêu, nhiệm vụ phát triển kinh tế xã
hội.
Dựa vào các chiến lợc phát triển kinh tế xã hội, các quy hoạch phát triển mà
nó đang phục vụ hệ thống quan điểm mục tiêu của kế hoạch 5 năm đợc xây
dựng.
Hệ thống quan điểm mục tiêu của kế hoạch 5 năm có chức năng cụ thể hoá
các mục tiêu định hớng của chiến lợc phát triển kinh tế xã hội, không đợc xa rời
mục tiêu chính của chiến lợc đã đề ra.
1.4 Xây dng hệ thống chỉ tiêu kế hoạch 5 năm.
Hệ thống chi tiêu trong kế hoạch phát triển đợc hiểu là thớc đo cụ thể
nhiệm vụ cần đạt đợc trong thời kỳ kế hoạch. Các thớc đo này thể hiện cả về số
lợng và chất lợng. Nó cho phép xác định nội dung cơ bản của quá trình phát
triển kinh tế, các bộ phận cấu thành cụ thể của nó và đợc Nhà nớc sử dụng dể
thực hiện quá trình điều tiết nền kinh tế.
Hệ thống chỉ tiêu của kế hoạch 5 năm chủ yếu mang tính định hớng phát
triển nh: tốc độ tăng trởng kỳ kế hoạch, tỉ trong công nghiệp nông nghiệp và
dịch vụ trong GDP; tỷ trọng lao động xã hội làm việc trong các ngành nói trên;
thu nhập bình quân đầu ngời; tốc độ tăng trởng năng suất lao động; kim ngạch
xuất khẩu v v
Trờng Đại học Kinh tế Quốc dân
10
Đề án môn học KHHPTKT-XH KhoaKH&PT
1.5 Xây dựng các cân đối vĩ mô chủ yếu trong nền kinh tế.
Đây cũng là một nội dung quan trọng của công tác kế hoạch hoá. Kế
hoạch 5 năm xây dng và bảo đảm một số cân đối lớn:
- Cân đối vốn đầu t phát triển.
- Cân đối thanh toán quốc tế.
- Cân đối ngân sách Nhà nớc.
- Cân đối lao động-việc làm.
- Cân đối tích luỹ-tiêu dùng.
- Cân đối cung- cầu một số vật t hàng hoá chủ yếu.
1.6 Xác định các chơng trình phát triển kinh tế xã hội chủ yếu.
Các kế hoạch 5 năm có thể đợc triển khai bằng các kế hoạch hàng năm,
các chơng trình phát triển kinh tế. Do vậy trong nội dung của kế hoạch 5 năm
cần xác định những bộ phận triển khai chủ yếu.
1.7. Xác định các chính sách, giải pháp chủ yếu thực hiện kế hoạch.
Đây là một phần rất quan trọng của bản kế hoạch, nếu không đề ra các
chính sách, giải pháp thì tất cả các công đoạn ở trên không có tác dụng. Các giải
pháp chỉ ra cách thức hoạt động nhằm thực hiện các mục tiêu đã đề ra.
2. Hệ thống chỉ tiêu kế hoạch 5 năm.
Một nội dung quan trọng không thể thiếu của kế hoạch nói chung và kế
hoạch 5 năm nói riêng đó là xây dựng hệ thống chỉ tiêu. Hệ thống chi tiêu trong
kế hoạch phát triển đợc hiểu là thớc đo cụ thể nhiệm vụ cần đạt đợc trong thời
kỳ kế hoạch. Các thớc đo này thể hiện cả về số lợng và chất lợng. Nó cho phép
xác định nội dung cơ bản của quá trình phát triển kinh tế, các bộ phận cấu thành
cụ thể của nó và đợc Nhà nớc sử dụng dể thực hiện quá trình điều tiết nền kinh
tế. Có nhiều cách phân loại hệ thống chỉ tiêu kế hoạch:
- Đứng trên góc độ phạm vi tính toán, hệ thống chỉ tiêu bao gồm các chỉ tiêu
kế hoạch quốc gia nh: Chỉ tiêu phản ánh chơng trình phát triển kinh tế đất nớc,
các dự báo kinh tế-xã hội, các chỉ tiêu của hệ thốngài khoản quốc gia, nguồn
ngân sách Chính phủ và tài chính Nhà nớc. Các chỉ tiêu kế hoạch của tỉnh,
thành phố bao gồm các chỉ tiêu phản ánh chơng trình phát triển của các vùng và
Trờng Đại học Kinh tế Quốc dân
11
Đề án môn học KHHPTKT-XH KhoaKH&PT
ngân sách địa phơng. Hệ thống các chỉ tiêu phát triển của từng ngành, nội bộ
ngành nh công nghiệp, nông nghiệp và phát triển nông thôn, giao thông, bu
chính viễn thông
- Đứng trên góc độ nội dung, hệ thống chỉ tiêu đợc chia thành các chỉ tiêu
phát triển kinh tế và các chỉ tiêu phát triển xã hội. Các chỉ tiêu phát triển kinh tế
đặt ra nhiệm vụ về tăng trởng kinh tế, chuyển dịch cơ cấu kinh tế và những cân
đối nguồn lực chủ yếu. Ví đụ trong kế hoạch 5 năm 2001-2005 của nớc ta chỉ
tiêu kinh tế bao gồm một số chỉ tiêu nh: Đa GDP năm 2005 bằng 2 lần GDP
năm 2001. Tốc độ tăng trởng GDP bình quân mỗi năm là 7,5%/năm trong đó
tốc độ tăng trởng bình quân của ngành nông nghiệp là 4,3%/năm, ngành công
nghiệp, xây dựng cơ bản là 10,8%/năm và ngành dịch vụ là 6,2%/năm; Chỉ tiêu
tốc độ tăng trởng giá trị sản xuất của từng ngành : nông nghiệp tăng
4,8%/năm,công nghiệp tăng 13%/năm, dịch vụ tăng 7,5%/ năm; Chỉ tiêu cơ cấu
ngành kinh tế theo GDP : Nông nghiệp chiếm 20-21%, công nghiệp 38-39%,
dịch vụ41-42%; Chỉ tiêu tốc độ tăng trởng kim ngạch xuất khẩu bình quân năm
là16%/năm và một số chỉ tiêu khác
Các chỉ tiêu xã hội đa ra các mục tiêu giải quyết các vấn đề nh: Xoá đói
giảm nghèo, công bằng xã hội, phát triển y tế giáo dục, khoa học-công nghệ và
các mục tiêu xã hội khác. Trong KH 5 năm PTKT-XH 2001-2005 một số chỉ
tiêu xã hội nh: Về giáo dục có chỉ tiêu học sinh đến trờng trong độ tuổi đến năm
2005: Trung học cơ sở là 80%, phổ thông trung học là 45%; Chỉ tiêu về dân số:
Giảm tỉ lệ sinh bình quân 0,05%/năm;Tốc độ tăng dân số tự nhiên là 1,2%/năm;
Tạo việc làm cho 7,5 triệu lao động trong vòng 5 năm (trung bình 1,5
triệu lao động /năm); Tỉ lệ lao động qua đào tạo đến 2005 là 30%; Về y tế-chăm
sóc sức khoẻ: Đảm bảo nhu cầu thuốc chữa bệnh 40%; Tỉ lệ trẻ em suy dinh d-
ỡng 22-5%(2005).
Để thực hiện sự gắn bó giữa phát triển kinh tế với phát triển xã hội, hiện
nay ngời ta thờng đặt ra các chỉ tiêu lồng ghép. Các chỉ tiêu lồng ghép đảm bảo
thể hiện đợc cả hai yêu cầu trong một chỉ tiêu. Ví dụ chỉ tiêu thu nhập bình
quân trên đầu ngời, nhu cầu việc làm mới v v
Trờng Đại học Kinh tế Quốc dân
12
Đề án môn học KHHPTKT-XH KhoaKH&PT
- Đứng trên góc độ quản lý, hệ thống kế hoạch có chỉ tiêu pháp lệnh, chỉ
tiêu hớng dẫn và chỉ tiêu dự báo. Chỉ tiêu pháp lệnh đợc Quốc hội và Chính phủ
phê duyệt và trở thành bắt buộc phải hoàn thành trong thờ kỳ kế hoạch. Chỉ tiêu
hớng dẫn thờng mang tính định hớng hoạt động của các ngành, dịa phơng, các
đơn vị kinh tế và dùng để phân tích, so sánh đánh giá mức độ phát triển của các
đối tợng kế hoạch hoá. Các chỉ tiêu dự báo ở tầm vĩ mô làm cơ sở luận chứng
cho các chỉ tiêu pháp lệnh phê chuẩn và đợc xem nh các số liệu, thông tin kinh
tế cho các đơn vị kinh tế, các ngành, địa phơng và các cơ quan có liên quan
tham khảo.
- Theo phạm vi đơn vị đo lờng, hệ thống chỉ tiêu kế hoạch gồm có các chỉ tiêu
hiện vật và chỉ tiêu giá trị. Chỉ tiêu hiện vật xác định mặt vật chất của sản
xuất, đợc đo lờng bằng các đơn vị đo hiện vật nh: Cái, trọng lợng, kích thớc,
dung tích v v Chỉ tiêu hiện vật có tác dụng xác định cụ thể quy mô của sản
xuất và dịch vụ, nó đa ra khả năng thiết lập mối quan hệ trực tiếp giữa mục
tiêu sản xuất sản phẩm với khối lợng nhu cầu cung cấp các hàng hoá trung
gian. Chỉ tiêu giá trị đo lờng cácnhiệm vụ, mục tiêu và quy mô phát triển của
nền kinh tế dới hình thái tiền tệ,nó đợc sử dụng để hình thành các cân đối vĩ
mô, cá con số phản ánh tổng hợp nội dung phát triển kinh tế, chuyển dịch cơ
cấu kinh tế và hớng phát triển của các ngành, vùng v v
- Ngoài các cách phân loại chủ yếu trên, hệ thống chỉ tiêu kế hoạch còn đợc
chia thành chỉ tiêu tơng đối và chỉ tiêu tuyệt đối; chỉ tiêu phản ánh chất lợng
và số lợng. Tất cả các chỉ tiêu đều góp phần tăng cờng tính định lợng trong
kế hoạch hoá phát triển. Tuy vậy, để thích ứng với các điều kiện thờng
xuyên biến đổi của kinh tế thị trờng và theo yêu cầu phát triển ngày càng
cao của đời sống, xã hội, các kế hoạch phát triển hiện nay đặt trọng tâm vào
các chỉ tiêu xã hội, các chỉ tiêu giá trị, cá chỉ tiêu mang tính chất hớng dẫn
và dự báo.
3. Một số phơng pháp xây dựng và quản lý KH 5 năm PTKT-XH.
3.1. Phơng pháp truyền thống.
Trờng Đại học Kinh tế Quốc dân
13
Đề án môn học KHHPTKT-XH KhoaKH&PT
Xây dựng và quản lý các KH 5 năm theo phơng pháp truyền thống đã đợc
áp dụng từ rất lâu trong hệ thông kinh tế xã hội chủ nghĩa, và ngày nay nền kinh
tế nớc ta vẫn còn áp dụng dới những hình thức khác nhau. Đặc trng của phơng
pháp này, nh chúng ta đã biết, đó là: khoảng thời gian của thời kỳ 5 năm là cố
định( ví dụ: kế hoạch 5 năm 1996-2000; 2001-2005); thích ứng với khoảng thời
gian cố định, chỉ tiêu kế hoạch đợc xây dựng một lần cho cả thời kỳ 5 năm, các
mục tiêu phát triển thờng là con số bình quân hàng năm hoặc tính cho năm cuối
của kỳ kế hoạch. Mô hình trên hoàn toàn phù hợp trong thời kỳ kế hoạch hoá
tập trung với nền kinh tế kế hoạchá ổn định, quá trình phát triển sau đợc xem
nh là quá trình trớc cộng thêm một bớc; kinh tế trong nớc là một tổng thể
thống nhất bao gồm thành phần kinh tế XHCN là chủ yếu, các mối quan hệ
kinh tế quốc tế cũng đợc xác diịnh trớc theo kế hoạch chung của hội đồng tơng
trợ kinh tế. Tuy vậy, nếu nhìn nhận ở góc độ chức năng của kế hoạch trong nền
kinh tế thị trờng là điều tiết các quan hệ thị trờng, kế hoạchắc phục các khuyết
tật của thị trờng, bổ sung và hớng thị trờng hoạt động theo mục tiêu của xã hội
thì phơng pháp truyền thống tỏ ra có nhiều hạn chế. Chỉ tiêu kế hoạch xây dựng
một lần cho cả thời kỳ 5 năm sẽ không cập nhật đợc các biến động của thị tr-
ờng; sự thay đổi môi trờng kinh tế trong nớc và quốc tế làm cho các con số kế
hoạch trở lên lạc hậu, thiếu tính linh hoạt và khả năng hiệu chỉnh. Việc quản lý
và điều hành vĩ mô nền kinh tế quốc dân vì thế mà trở nên cứng nhắc, kém hiệu
quả, thậm chí sai lẹch. Những căn bệnh nh: chủ quan, duy ý chí hoặc quan liêu
sẽ sảy ra. Hơn nữa không phải chơng trình dự án hoặc chính sách nào cũng đợc
sây dựng và triển khai bó gọn trong một thời kỳ 5 ăm nhất định. Khi các chính
sách, chơng trình có sự gối đầu từ kế hoạch 5 năm này sang kế hoạch 5 năm
khác thì cách xây dựng kế hoạch theo thời kỳ cố định sẽ khó phản ánh đợc tính
liên tục trong mục tiêu hoạt đông và cân đối ngân sách cho các chính sách, ch-
ơng trình đó.
3.2. Phơng pháp cuốn chiếu
Đối với Việt Nam đây là một phơng pháp còn rất mới mặc dù phơng pháp
này đã đợc sử dụng phổ biến từ rất lâu ở các nớc phát triển. Đặc biệt ở Pháp
Trờng Đại học Kinh tế Quốc dân
14

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét